Thưa ông, trong nhiều báo cáo công bố gần đây của các tổ chức quốc tế, Việt Nam tiếp tục được đánh giá xem là điểm đến của các nhà đầu tư nước ngoài. Vậy các doanh nghiệp đến từ Đài Loan nhìn nhận thế nào về đánh giá này?
Việt Nam có nền kinh tế ổn định, lực lượng lao động đông đảo và cơ cấu dân số vàng, tài nguyên thiên nhiên dồi dào. Từ 20 năm trước, Việt Nam đã thu hút nhiều doanh nhân Đài Loan trong các ngành truyền thống như dệt may, đóng giày, nội thất… đến đầu tư.
Tính đến năm 2022, vốn đầu tư của doanh nhân Đài Loan chiếm khoảng 8% tổng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, với tổng vốn đầu tư lũy kế là 36,4 tỷ USD, trở thành đối tác đầu tư lớn thứ 4 tại Việt Nam. Tuy nhiên, nếu cộng thêm khoản đầu tư từ các nước thứ ba thì số vốn đầu tư thực tế của doanh nghiệp Đài Loan sẽ vượt quá 50 tỷ USD.
Sau chiến tranh thương mại Mỹ - Trung, nhiều doanh nghiệp công nghệ lớn của Đài Loan đã điều chỉnh sự phân bố trên thế giới. Nhờ những lợi thế sẵn có cộng thêm việc ký kết một số hiệp định thương mại tự do, Việt Nam trở thành điểm đến lý tưởng chuyển giao năng lực sản xuất từ Trung Quốc của ngành điện tử và chuỗi cung ứng của ngành này. Các nhà máy gia công hàng điện tử tiêu dùng lớn như Foxxcon, Compal, Pegatron, Wistron, Qisda… đều đã đến Việt Nam để thành lập nhà máy hoặc mở rộng năng lực sản xuất. Trong tương lai, chúng ta có thể mong đợi thêm nhiều doanh nhân và doanh nghiệp Đài Loan lên kế hoạch thành lập nhà máy tại Việt Nam.
Ông đánh giá như thế nào về dòng vốn đầu tư từ Đài Loan chảy vào Việt Nam đến thời điểm này, đặc biệt là dòng vốn đổ vào lĩnh vực công nghiệp chế biến chế tạo, công nghệ cao?
Trước khi cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung xảy ra, đầu tư của Đài Loan vào Việt Nam chủ yếu tập trung vào lĩnh vực sản xuất truyền thống, chiếm gần 85% tổng vốn đầu tư của Đài Loan vào Việt Nam. Cho đến gần đây, các nhà máy sản xuất điện tử Đài Loan và thương hiệu quốc tế GIANT mới đến Việt Nam.
Ngoài ngành sản xuất, tỷ lệ doanh nhân Đài Loan đầu tư vào ngành dịch vụ của Việt Nam cũng tăng trong những năm gần đây, từ 10,1% trước đây lên 29,8% trong giai đoạn năm 2018-2022. Con số này cho thấy các loại hình doanh nghiệp Đài Loan đầu tư tại Việt Nam ngày càng đa dạng hơn.
Cho dù là ngành sản xuất truyền thống hay nhà máy chế biến chế tạo lớn và ngành điện tử, các công ty Đài Loan một mặt tận dụng ưu thế tài nguyên thiên nhiên và nhân công của Việt Nam, mặt khác du nhập công nghệ tiên tiến và đưa sản xuất công nghiệp hiện đại vào Việt Nam để đạt được lợi ích chung cho cả hai bên.
Trong bối cảnh vốn đầu tư toàn cầu đang suy giảm, ông dự báo như thế nào về dòng vốn đầu tư từ Đài Loan vào Việt Nam trong thời gian tới?
Kể từ cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung Quốc năm 2018, nhiều công ty nhằm đáp ứng yêu cầu đa dạng hóa chuỗi cung ứng quốc tế của khách hàng Hoa Kỳ và châu Âu đã chuyển đơn hàng sản xuất sang Việt Nam, giúp kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng hơn 7% trong hai năm liên tiếp 2018 và 2019. Ngay cả khi chịu tác động của dịch Covid-19, nhìn chung nền kinh tế Việt Nam vẫn thuộc top tăng trưởng nhanh nhất châu Á, đồng thời là điểm đến đầu tư lý tưởng của các nhà sản xuất Mỹ, châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore và Đài Loan.
Đầu tư của doanh nhân Đài Loan vào Việt Nam sẽ tiếp tục gia tăng. Lấy miền Bắc Việt Nam làm ví dụ, giai đoạn này đã có các nhà sản xuất lớn như Foxxcon, Wistron, Qisda đến Việt Nam đầu tư. Tuy nhiên, các nhà máy điện tử này hiện vẫn phụ thuộc vào chuỗi cung ứng nước ngoài, bởi vậy, trong tương lai chúng ta có thể chờ đợi những nhà cung cấp liên quan đến ngành điện tử sẽ đầu tư vào Việt Nam.
Theo ông, để tiếp tục hút vốn từ nhà đầu tư nước ngoài nói chung và nhà đầu tư Đài Loan nói riêng trong lĩnh vực công nghiệp chế biến chế tạo, đặc biệt là công nghiệp công nghệ cao, Việt Nam cần phải có những thay đổi như thế nào về môi trường đầu tư, nguồn nhân lực, chính sách thu hút... để thích ứng với sự đòi hỏi cao từ nhà đầu tư?
Việt Nam có nền chính trị và an ninh ổn định, Chính phủ Việt Nam luôn nỗ lực cam kết cải thiện môi trường kinh doanh để thu hút đầu tư nước ngoài, nhưng vẫn còn những điểm cần cải thiện, như giải quyết vấn đề thiếu nhân lực kỹ thuật, giảm bớt các thủ tục hành chính và quy trình thực hiện.
Trong những năm gần đây, hầu hết đầu tư Đài Loan đến Việt Nam đều thuộc ngành công nghiệp điện tử, năng lượng mặt trời và các ngành công nghiệp mới nổi khác, nhu cầu về nhân lực kỹ thuật ngày càng cấp thiết. Tuy nhiên, các trường, khoa đào tạo liên quan tại Việt Nam rất ít, các doanh nghiệp chỉ có thể tự đào tạo tại công ty, đồng thời còn phải đề phòng công ty khác lôi kéo nhân viên của mình.
Chính phủ Việt Nam có thể bổ sung các trường, khoa đào tạo, chương trình đào tạo liên quan đến các ngành mới nổi vào hệ thống giáo dục đại học, hoặc kết hợp với các tổ chức giáo dục ở nước ngoài đào tạo thêm nhân lực trong các ngành mới nổi.
Cùng với đó, khi Chính phủ Việt Nam công bố các luật mới, đôi khi do các hướng dẫn thực hiện được công bố muộn, dẫn đến sự không thống nhất giữa chính quyền trung ương và địa phương. Nếu Chính phủ Việt Nam có thể chỉ định đầu mối tư vấn thống nhất rõ ràng, quy định thống nhất biện pháp thực hiện của các cán bộ địa phương, các nhà sản xuất nước ngoài sẽ có thể hoạt động thuận lợi hơn, giảm thiểu những hiểu nhầm không đáng có.
VnEconomy 22/03/2023 07:00
Nội dung bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 12-2023 phát hành ngày 20-03-2023. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
https://postenp.phaha.vn/chi-tiet-toa-soan/tap-chi-kinh-te-viet-nam
Trong khuôn khổ Diễn đàn “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức, các chuyên gia pháp lý và kinh tế đã đưa ra những góc nhìn sâu sắc về yêu cầu cải cách thể chế, trọng tâm là dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi).
Về bản chất, y học tái tạo xoay quanh việc phục hồi hoặc thay thế các mô, cơ quan và tế bào bị tổn thương thông qua các phương pháp tiên tiến như liệu pháp tế bào gốc, kỹ thuật mô và chỉnh sửa gen. Lĩnh vực mang tính đột phá này có tiềm năng cách mạng hóa việc điều trị các bệnh mãn tính và chấn thương, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân trên toàn thế giới.
Trong tái cấu trúc doanh nghiệp, câu hỏi quan trọng nhất không phải là tài sản hiện tại đáng giá bao nhiêu, mà là doanh nghiệp còn khả năng tạo ra bao nhiêu dòng tiền trong tương lai. Tuy nhiên, giữa tổ chức tín dụng muốn thu hồi vốn nhanh và doanh nghiệp cần thời gian để xoay vòng vốn luôn tồn tại những “nút thắt” giằng co, khó xử lý. Vì vậy, vấn đề là làm thế nào để dung hòa xung đột này, tối đa hóa giá trị thu hồi và biến cơ chế phục hồi thành một thị trường hấp dẫn dòng vốn ngoại.
Ông Jeffrey Tchui, Giám đốc Điều hành kiêm Giám đốc khu vực châu Á - Thái Bình Dương của Hashgraph, đơn vị phát triển và thúc đẩy Hedera, một trong những mạng sổ cái phân tán hàng đầu thế giới, đồng thời là Giám đốc Điều hành của Web3 Harbour, hiệp hội ngành Web3 hàng đầu Hồng Kông (Trung Quốc), trong cuộc trao đổi với a/b, đã chia sẻ quan điểm về định hướng phát triển thị trường tài sản thực được mã hóa (Real World Assets - RWA), đồng thời đưa ra nhiều gợi mở để Việt Nam hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho lĩnh vực này.
Khi các định chế tài chính toàn cầu bắt đầu thử nghiệm đưa tài sản truyền thống lên blockchain, Việt Nam đứng trước cơ hội tham gia một xu hướng mới của thị trường vốn. Tuy nhiên, để mã hóa tài sản thực (RWA) phát triển bền vững, cần một chiến lược phù hợp ngay từ giai đoạn đầu...
Trong khuôn khổ Diễn đàn “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức, các chuyên gia pháp lý và kinh tế đã đưa ra những góc nhìn sâu sắc về yêu cầu cải cách thể chế, trọng tâm là dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi).
Giữa không gian biển xanh và núi Linh Trường, Khu nghỉ dưỡng Eureka Linh Trường Resort tại xã Hoằng Tiến, tỉnh Thanh Hóa mang đến một kỳ nghỉ kết hợp giữa nghỉ dưỡng, trải nghiệm thiên nhiên và chăm sóc sức khỏe. Không chỉ là nơi lưu trú ven biển, khu nghỉ dưỡng đang hướng tới một hành trình để du khách thư giãn, tái tạo năng lượng và tìm lại sự cân bằng sau những ngày bận rộn.