
Theo thống kê của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, tính đến hết năm 2020, số
người tham gia bảo hiểm thất nghiệp là trên 13,3 triệu người. Tổng số chi
quỹ bảo hiểm thất nghiệp thực hiện trong năm 2020 là 18.852 tỷ đồng,
tăng 49,2% so với năm 2019. Cũng trong năm 2020, số người nhận trợ cấp
thất nghiệp đã tăng 12,02% so với năm 2019, với số tiền chi trợ cấp thất
nghiệp tăng 49,31%.
Riêng trong 6 tháng đầu năm 2021, cơ quan bảo hiểm xã hội đã phối hợp
với ngành lao động – thương binh và xã hội giải quyết cho 340.289 người
hưởng chế độ bảo hiểm thất nghiệp, tăng 41.385 người (10,84%) so với
cùng kỳ năm 2020.
Lý giải về thực trạng này, cơ quan bảo hiểm xã hội cho biết số người nhận chế độ trợ cấp thất nghiệp năm 2020 cũng như nửa đầu năm 2021 tăng cao chủ yếu là do dịch bệnh Covid-19 đã tác động lớn đến tình hình sản xuất kinh doanh.
Một số doanh nghiệp phải tạm dừng hoạt động, bị giải thể, cắt giảm lao
động, người lao động không có việc làm phải nghỉ việc, tình trạng thất
nghiệp và thiếu việc làm tăng lên.
Trong đó, đợt dịch cuối tháng 4 là nghiêm trọng nhất khi tấn công vào các
khu công nghiệp, khu chế xuất, tác động mạnh đến hầu hết người lao
động, doanh nghiệp. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội dự báo, số lao
động bị ảnh hưởng như phải cách ly, bị ngừng việc do doanh nghiệp
ngừng sản xuất, kinh doanh có thể lên đến khoảng 2 - 2,5 triệu người lao
động.
Tình thế này khiến chính sách bảo hiểm thất nghiệp trở thành “cứu cánh”
của người lao động trong việc duy trì cuộc sống trước mắt cho đến khi tìm
được việc làm mới và quay trở lại thị trường lao động. Mặc dù vậy, qua
thực tế triển khai, cơ quan bảo hiểm xã hội cho rằng chính sách đã bộc lộ
nhiều bất cập cần sớm được sửa đổi.
Chẳng hạn như, quy định đối với người lao động làm việc theo hợp đồng
lao động từ đủ 1 tháng đến dưới 3 tháng, cán bộ, công chức và mức tiền
lương tối đa làm căn cứ đóng giữa bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm
thất nghiệp không đồng nhất. Điều này dẫn đến khó khăn trong công tác
quản lý đối tượng tham gia và theo dõi thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm
thất nghiệp đối với đơn vị sử dụng lao động.
Bên cạnh đó, điều kiện hưởng chế độ trợ cấp thất nghiệp còn chưa chặt
chẽ, chưa phản ánh đúng bản chất của thất nghiệp. Quy định về việc thực
hiện chế độ tư vấn, giới thiệu việc làm còn chưa cụ thể dẫn đến việc thực
hiện còn mang tính chất hình thức.
Mặt khác, điều kiện hưởng chế độ hỗ trợ kinh phí đào tạo, bỗi dưỡng,
nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động
chưa phù hợp với tình hình thực tế. Kết quả là sau 4 năm triển khai
Luật Việc làm nhưng đến nay vẫn chưa có đơn vị sử dụng lao động nào
nộp hồ sơ đề nghị và được thụ hưởng chế độ này.
Dưới góc độ doanh nghiệp, bà Phan Thị Thanh Xuân, Tổng Thư ký Hiệp
hội Da - Giày - Túi xách Việt Nam khi trao đổi với VnEconomy thì cho
rằng, ngay cả thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp cũng không còn phù
hợp. Bà Xuân dẫn chứng, hiện nay theo quy định của Luật Việc làm, thời
gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo số tháng đóng bảo hiểm
thất nghiệp, cứ đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì được hưởng 3
tháng trợ cấp thất nghiệp. Sau đó, cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được
hưởng thêm 1 tháng trợ cấp thất nghiệp nhưng tối đa không quá 12
tháng.
“Quy định này đã tạo ra tình trạng biến động lao động tại nhiều doanh
nghiệp, do người lao động, nhất là lao động trẻ lợi dụng chính sách này
chỉ đi làm đủ 12 tháng để hưởng 3 tháng trợ cấp thất nghiệp. Thậm chí, có
trường hợp sau đó lại đi xin việc làm tiếp 12 tháng rồi lại nghỉ, gây khó
khăn cho các doanh nghiệp trong thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh
doanh ”, bà Xuân lý giải.
Từ những bất cập trên, đại diện Hiệp hội Da- Giày- Túi xách Việt Nam đề
nghị sửa đổi quy định theo hướng làm từ đủ 12 - 24 tháng được hưởng 2
tháng trợ cấp thất nghiệp. Sau đó cứ đóng thêm đủ 12 tháng thì được
thêm 1 tháng để tránh tình trạng người lao động lợi dụng nhảy việc gây
khó khăn cho doanh nghiệp.
Về vấn đề này, Bảo hiểm xã hội Việt Nam cũng đề xuất cần phải sửa đổi
Luật Việc làm, trong đó có việc sửa điều kiện hưởng chế độ trợ cấp thất
nghiệp cho phù hợp. Từ đó, hạn chế tình trạng lạm dụng chính sách thông qua việc chủ động nghỉ việc, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hưởng trợ cấp thất nghiệp.
Cơ quan này cũng đề xuất sửa điều kiện hưởng chế độ hỗ trợ kinh phí đào
tạo, nâng cao kỹ năng nghề để duy trì việc làm theo hướng hỗ trợ kinh phí
để đơn vị tổ chức đào tạo, nâng cao kỹ năng nghề đối với người lao động
có nguy cơ mất việc làm.
Từng có nhiều năm kinh nghiệm và tham gia nghiên cứu các chính sách
về lao động, việc làm, bảo hiểm, nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động –
Thương binh và Xã hội Phạm Minh Huân nhấn mạnh nhiều hơn đến vai trò của quỹ bảo hiểm thất nghiệp trong việc trở thành “cứu cánh” cho
người lao động khi bị mất việc làm.
Theo ông Huân, quỹ bảo hiểm thất nghiệp không chỉ là khoản ngân sách
dùng để hỗ trợ người lao động không may bị mất việc hoặc giảm giờ làm,
mà nguồn tiền này còn dùng để đào tạo lại lao động. Tuy nhiên, trên thực
tế từ nhiều năm nay, nguồn quỹ này dường như mới chỉ tập trung vào
việc trợ cấp cho người lao động sau khi mất việc, còn phần đào tạo lại, hỗ
trợ học nghề chưa thực sự được chú trọng.
Vì vậy, ông Huân cho rằng, về lâu dài cần có những điều chỉnh, giải pháp
để sử dụng hiệu quả nguồn quỹ. Quan trọng hơn là cần có tính toán cụ
thể và xây dựng những đề án về đào tạo và đào tạo lại lao động nhằm ứng
phó với những thay đổi của thị trường lao động, nhất là trong bối cảnh
cách mạng 4.0.
Cũng cho rằng, chính sách bảo hiểm thất nghiệp trợ cấp cho người lao
động trong những tình huống khó khăn là rất tốt, song chuyên gia
Nguyễn Thị Lan Hương, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học - Lao động và
Xã hội (Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội) nhìn nhận về lâu dài cần chú trọng nhiều hơn đến việc hỗ trợ đào tạo, nâng cao kỹ năng nghề cho
người lao động thất nghiệp và có nguy cơ bị mất việc làm hơn là chỉ trợ
cấp tiền.
Việc này không chỉ giúp người lao động có cơ hội chuyển đổi nghề nghiệp
phù hợp với bối cảnh, mà còn nhằm hạn chế tình trạng trục lợi chính
sách. “Tôi nghĩ rằng, về lâu dài cần có một chiến lược về đào tạo lại cho
những lao động thất nghiệp, có nguy cơ bị mất việc làm, trong đó xác định
rõ những nhóm ngành nghề nào thực sự cần thiết mới đào tạo, tránh đào
tạo chung chung, ồ ạt”, chuyên gia Nguyễn Thị Lan Hương nhấn mạnh.
Dữ liệu thống kê cho thấy cả nước hiện có khoảng 1,6 triệu thanh niên không có việc làm, không tham gia học tập hoặc đào tạo, dẫn đến nguy cơ lãng phí về nguồn nhân lực trẻ, cũng như áp lực cho hệ thống an sinh xã hội, theo lãnh đạo Bộ Nội vụ...
Bộ Y tế ban hành hướng dẫn về việc triển khai thí điểm hoạt động khám chữa bệnh từ xa và hỗ trợ khám chữa bệnh từ xa, nhằm làm rõ các mô hình triển khai, điều kiện thực hiện, trách nhiệm chuyên môn và yêu cầu bảo đảm an toàn người bệnh, bảo mật thông tin...
Thời gian qua, chất lượng khám chữa bệnh tại các trạm y tế cơ sở đã có nhiều thay đổi rõ nét nhờ chuyển đổi số. Công nghệ được ứng dụng vào quản lý, khám chữa bệnh, đang mở thêm cách để y tế đến gần người dân vùng cao…
Việc ứng dụng công nghệ không chỉ góp phần gia tăng giá trị sản phẩm, mở rộng đầu ra, mà còn tạo sinh kế bền vững cho đồng bào vùng dân tộc thiểu số nơi vùng trồng…
Theo Viện kiểm sát nhân dân tối cao, bị can Nguyễn Ngọc Thủy đã chỉ đạo thực hiện 26.354 hợp đồng chuyển nhượng cổ phần không có thật cho 10.123 bị hại với số tiền chiếm đoạt là hơn 8.459 tỷ đồng.
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Theo các chuyên gia, thay vì cạnh tranh bằng ưu đãi thuế hoặc chi phí lao động giá rẻ, Việt Nam cần chuyển hướng cạnh tranh bằng chất lượng hạ tầng đô thị, dịch vụ công và môi trường sống thân thiện.