Thưa ông, đồng Euro đang yếu thêm mỗi ngày, buộc Ngân hàng Trung ương châu Âu phải tăng lãi suất để kiểm soát đà giảm giá của đồng tiền này; trong khi đó, đồng USD lại tăng giá. Ông nói gì về tác động của diễn biến ngược chiều trên đối với hoạt động kinh tế của Việt Nam?
Trước hết, doanh nghiệp nhập khẩu từ khu vực châu Âu thông qua đồng Euro sẽ được lợi vì giá rẻ. Gần đây, thậm chí, ở Việt Nam có tình trạng mua Euro để tích trữ. Như vậy, VND đã lên giá so với đồng Euro. Theo nguyên lý, khi nhập khẩu, nếu đồng tiền của ta tăng giá so với đồng tiền nước xuất khẩu thì nhập khẩu sẽ rẻ hơn. Dưới góc độ lạm phát, việc nhập khẩu từ châu Âu sẽ có lợi hơn.
Tôi vừa cùng đoàn công tác Chính phủ khảo sát một số doanh nghiệp dệt may tại Thừa Thiên - Huế. Họ cho biết đồng Euro xuống giá giúp họ giảm chi phí tới 20 - 25% trả nợ mua máy móc thiết bị kéo sợi ở các hợp đồng trước đó. Dù chưa có thống kê đầy đủ nhưng nhìn chung, khi đồng Euro yếu đi thì việc trả nợ vay, mua hàng từ khu vực châu Âu sẽ tiết kiệm được chi phí.
Với xuất khẩu thì bài toán lợi ích là gì khi đồng Euro liên tục giảm giá, thưa ông?
Với xuất khẩu đương nhiên là không được lợi nếu tỷ trọng đồng Euro lớn. Tuy nhiên, xuất khẩu qua thị trường châu Âu, Mỹ, Trung Quốc thì tùy theo nhóm hàng và lựa chọn đồng tiền thanh toán, nhưng xuất khẩu vào châu Âu phần lớn vẫn lựa chọn đồng USD và đồng Euro chiếm tỷ trọng không lớn.
Hơn nữa, nếu VND mất giá vài ba phần trăm trong năm nay thì cũng không tác động nhiều. Trong 6 tháng đầu năm nay, tỷ giá chỉ tăng vài phần trăm trong khi xuất khẩu tăng tới 18% và đây là tín hiệu tốt. Chưa kể, tỷ trọng đồng Euro trong cán cân thương mại không lớn, chỉ khoảng trên 10% thì mức độ tác động tiêu cực từ việc Euro tăng giá là không đáng lo.
Trong bối cảnh đó, theo ông, chính sách tỷ giá hối đoái nên như thế nào?
Trước hết, điều hành tỷ giá không nên chạy theo xu hướng mất giá của rất nhiều đồng tiền so với đồng USD, để từ đó lo ngại tại sao VND không mất giá nhiều như đồng tiền khác. Mỗi quốc gia đều có hoàn cảnh, bối cảnh và điều kiện riêng. Vấn đề lãi suất, tỷ giá, lạm phát ở các quốc gia khác so với Mỹ cũng luôn gắn với những đặc thù của họ.
Đồng VND của Việt Nam có 2 lợi thế:
(i) lãi suất VND cao so với lãi suất USD nên giúp cho VND tăng giá so với USD; (ii) lạm phát ở Việt Nam vẫn thấp. Dù cho giới phân tích nhận định từ nay đến cuối năm lạm phát có thể lên tới 3 - 4%, nhưng so với lạm phát ở Mỹ là 9,1% thì vẫn quá thấp. Việt Nam có đồng tiền lãi suất cao hơn, trong khi lạm phát thấp hơn thì sẽ làm cho VND tăng giá so với USD, xét dưới góc độ tỷ giá hối đoái.
Tuy nhiên, chiến tranh, dịch bệnh, đứt gãy chuỗi cung ứng, lạm phát… đang bùng phát trên toàn thế giới, khiến đồng USD trở thành “vịnh tránh bão” và tăng giá. Điều đó cũng có phần đúng với hoàn cảnh Việt Nam, ở chỗ, các nhà đầu tư nước ngoài mang vốn vào đây, bây giờ họ có thể sắp xếp lại dòng vốn và điều này có thể làm cho đồng USD tăng chút ít so với VND nhưng không nhiều.
Ngoài ra, tỷ giá còn tiếp cận dưới góc độ cung cầu thị trường. Vì vậy, chính sách tỷ giá hối đoái phải tạo được niềm tin với các chủ thể tham gia thị trường, đó là: doanh nghiệp xuất nhập khẩu, người dân có ngoại tệ, ngân hàng mua bán phục vụ thanh toán, các nhà đầu tư trực tiếp, gián tiếp của nước ngoài tại Việt Nam. Nếu mức lạm phát của Việt Nam xấp xỉ 4% trong năm nay, tỷ giá VND/USD tương đối ổn định thì sẽ cải thiện cán cân thanh toán của Việt Nam. Nhờ đó, một mặt, dự trữ ngoại hối tăng; mặt khác, tỷ giá ổn định và tăng khả năng kêu gọi các dòng vốn từ bên ngoài vào Việt Nam.
Việt Nam là quốc gia nhập khẩu rất lớn, với mức dự báo lên tới 300 – 400 tỷ USD trong năm nay, nếu hàng nhập khẩu về nhiều, trong khi tỷ giá hối đoái tăng sẽ gây áp lực gay gắt lên lạm phát. Bởi vậy, nếu tỷ giá biến động tăng ở mức dưới 4% sẽ góp phần giải quyết được nhiều bài toán tổng thể.
VnEconomy 25/07/2022 08:00
Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, bà Đỗ Thị Thúy Hương, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam (VEIA), cho rằng rào cản lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam không chỉ là đáp ứng tiêu chuẩn của khối FDI, mà còn nằm ở mạng lưới cung ứng sẵn có của các tập đoàn này. Do đó cần có sự cởi mở hơn từ doanh nghiệp FDI và thay đổi cách tiếp cận trong hỗ trợ nhà cung ứng trong nước, qua đó thúc đẩy kết nối và phát triển chuỗi cung ứng tại Việt Nam.
Trả lời phỏng vấn báo chí bên lề hội thảo “Nhà ở cho người nước ngoài sống và làm việc tại Thành phố Bắc Ninh” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy phối hợp với Ủy ban Nhân dân Thành phố Bắc Ninh tổ chức mới đây, ông Phạm Văn Thịnh, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Bắc Ninh, cho biết cùng với quá trình thu hút đầu tư và mở rộng sản xuất, nhu cầu nhà ở của chuyên gia, nhà quản lý và người lao động nước ngoài tại địa phương ngày càng gia tăng.
Câu hỏi của chặng phát triển mới không còn dừng ở việc chúng ta có bao nhiêu nguồn lực, mà là có thể tổ chức, kết nối và chuyển hóa những nguồn lực ấy đến đâu. Từ thể chế và môi trường kinh doanh đến sức sống của doanh nghiệp địa phương, từ niềm tin của người trở về quê đến cách ứng xử với di sản và căn tính miền Trung, những câu trả lời gặp nhau ở một điểm: phát triển phải để lại năng lực lớn hơn cho con người và vùng đất, để ngày mai có thể tự tạo ra những cơ hội mới.
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Đồng bằng sông Hồng đang đứng trước yêu cầu tổ chức lại nền nông nghiệp trong bối cảnh lao động ngày càng thiếu hụt, trong khi nhu cầu về thực phẩm an toàn, dinh dưỡng và chất lượng ngày càng gia tăng. Phát triển nông nghiệp sinh thái vì thế không chỉ là thay đổi kỹ thuật canh tác, mà còn đòi hỏi đổi mới cách tổ chức sản xuất, kết nối thị trường và quản trị tài nguyên, qua đó gia tăng giá trị từ cùng một hệ sinh thái.
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Với thông điệp “Cà phê Hòa bình - Make coffee not war”, chuỗi hoạt động “Theo dấu chân 100 năm Cà phê Khe Sanh” kết nối những giá trị lịch sử, văn hóa và nông nghiệp. Đây cũng là dịp để Quảng Trị phát huy tiềm năng du lịch nông nghiệp, đưa câu chuyện cà phê trở thành điểm nhấn trong hành trình khám phá miền Tây của tỉnh.