VnEconomy
VnEconomy

Xin ông cho biết tình hình xuất khẩu dệt may những tháng đầu năm 2025 và triển vọng về đơn hàng trong các quý tiếp theo?

Hai tháng đầu năm 2025, chúng ta đã xuất khẩu trên 7 tỷ USD, tăng 14% so với cùng kỳ năm 2024, trong đó kim ngạch xuất khẩu sang Hoa Kỳ vẫn chiếm 40%. Dự kiến cả quý 1/2025, ngành dệt may sẽ xuất khẩu được 12,5-12,7 tỷ USD. Đến nay hầu hết các doanh nghiệp đã ký xong đơn hàng của quý 2 và bắt đầu đàm phán đơn hàng quý 3 và quý 4.

Mặc dù đã có những tín hiệu khả quan, song diễn biến thị trường dệt may toàn cầu hiện chưa có khởi sắc như mong muốn. Quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, xung đột Nga - Ukraine và tại Trung Đông vẫn tác động tiêu cực đến tâm lý người tiêu dùng, sức mua toàn cầu vẫn còn hạn chế…

VnEconomy

Với việc Hoa Kỳ áp thuế 25% lên hàng dệt may Trung Quốc, nhiều đánh giá cho rằng Việt Nam có nhiều cơ hội gia tăng thị phần. Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào?

Tôi nghĩ không hoàn toàn như vậy. Hoa Kỳ là đối tác xuất khẩu lớn của ngành dệt may Việt Nam với kim ngạch trên 10 tỷ USD (năm 2024), chiếm tỷ trọng 40%, nhưng thị phần của Việt Nam tại Hoa Kỳ là một sản phẩm riêng, của Trung Quốc vào Hoa Kỳ cũng là dòng sản phẩm riêng.

Chúng ta cũng không kỳ vọng, vì các nhà mua hàng không bao giờ “bỏ trứng vào một giỏ”. Sản lượng mua từ Trung Quốc có thể giảm đi, nhưng họ sẽ điều chỉnh mua hàng ở một số nước khác chứ không chỉ giới hạn ở Việt Nam. Trong khi năng lực của dệt may Việt Nam cũng không thể tăng quá yêu cầu của nhà nhập khẩu được. Các nhà mua cũng đánh giá được năng lực, nguồn lực lao động, cũng như phần cung thiếu hụt của Việt Nam nên họ không tập trung đơn hàng có dòng thuế cao vào Việt Nam. Nếu có cũng chỉ tăng nhẹ chứ không thể tăng ở mức đột biến.

VnEconomy

Theo ông, đâu là thách thức với xuất khẩu dệt may của Việt Nam hiện nay?

Trong bối cảnh hiện nay, ngành dệt may Việt Nam phải đối mặt với nhiều thách thức cùng lúc. Đó là quan hệ chính trị của một số nước lớn hiện nay vẫn đang diễn ra rất phức tạp, căng thẳng thương mại do Hoa Kỳ áp thuế với hàng hóa của nhiều quốc gia. Thách thức này ảnh hưởng đến tâm lý người tiêu dùng, hầu bao chi tiêu của người tiêu dùng, theo đó, các nhà nhập khẩu có xu hướng ký kết những đơn hàng nhỏ, trong thời gian ngắn.

Thách thức nữa liên quan đến tình trạng nguồn cung thiếu của ngành. Việc thiếu nguồn cung nguyên liệu nội địa khiến doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu, làm giảm khả năng cạnh tranh và khó tận dụng tối đa các ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định thương mại tự do.

Với các Hiệp định thương mại tự do (FTA) chúng ta đã ký, một số hiệp định như CPTPP, hàng dệt may phải đảm bảo xuất xứ từ sợi, trong khi các doanh nghiệp trong nước chưa đầu tư được nhiều vào khâu sợi dệt nhuộm. Hay Hiệp định EVFTA yêu cầu quy tắc xuất xứ “2 công đoạn” (từ vải trở đi) đối với hàng dệt may… Đây là thách thức với doanh nghiệp nếu không đáp ứng được yêu cầu từ các nhãn hàng.

Thiếu lao động, đặc biệt những tháng đầu năm cũng là áp lực cho doanh nghiệp dệt may. Áp lực chi phí lao động sẽ tiếp tục đè nặng lên doanh nghiệp dệt may. Việt Nam đang thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư FDI, kéo theo nhu cầu lao động gia tăng và cạnh tranh lương ngày càng gay gắt. Đồng thời, xu hướng lao động Việt Nam tìm kiếm việc làm ở nước ngoài cũng đẩy mặt bằng lương trong nước lên cao, khiến các doanh nghiệp sản xuất đối diện với bài toán chi phí. Chi phí sản xuất của chúng ta tăng cao, trong khi giá sản phẩm của chúng ta không tăng. Điều này gây áp lực cho doanh nghiệp trong đảm bảo hiệu quả sản xuất kinh doanh.

Đặc biệt, áp lực liên quan đến cách thức mua hàng của các nhãn hàng. Trước đây khách hàng thanh toán theo phương thức L/C (thư tín dụng) cho doanh nghiệp, nhưng trong những năm gần đây (từ sau đại dịch Covid-19), khách hàng thường thanh toán trả chậm từ 15 - 60 ngày, thậm chí có đơn hàng kéo dài thanh toán đến 80 ngày. Trong khi đó, doanh nghiệp dệt may Việt Nam đa số là doanh nghiệp nhỏ và vừa, khả năng tài chính hạn chế, vốn vay ngân hàng là chính nên rất khó khăn.

VnEconomy

Nhiều chuyên gia cho rằng ngành dệt may Việt Nam chưa chịu tác động tiêu cực ngay từ chính sách thuế của Hoa Kỳ, song vẫn cần có giải pháp để ứng phó khi xảy ra tình huống không mong muốn. Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào?

Dệt may hiện là một trong bốn ngành có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất của cả nước, chiếm hơn 10% tổng kim ngạch xuất khẩu, nên việc tăng trưởng của ngành dệt may đóng vai trò rất quan trọng trong xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Dệt may cũng là ngành có xuất siêu lớn, giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động với mức thu nhập ổn định. Đồng thời, năm 2024, dệt may Việt Nam đã trở lại vị trí xuất khẩu lớn thứ hai trên thế giới (chỉ sau Trung Quốc).

Do đó, theo tôi, Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong vấn đề này. Chính phủ cần có bước đi chiến lược, tạo niềm tin giữa hai bên và có sự tương đồng về mặt chính sách. Chúng ta cũng cần suy nghĩ đến cán cân thương mại trong bối cảnh hội nhập toàn cầu hiện nay.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần chủ động trong các giải pháp để chúng ta có thể đạt được ba cột trụ chiến lược của ngành công nghiệp dệt may Việt Nam, gồm: đa dạng hóa thị trường xuất khẩu; đa dạng đối tác khách hàng và đa dạng hóa mặt hàng. Điều này đồng nghĩa với việc không tạo ra áp lực quá lớn cho xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ cho ngành dệt may Việt Nam.

Các doanh nghiệp cần mở rộng thị trường tiêu thụ, tránh lệ thuộc vào một số thị trường lớn, như vậy sẽ giảm được rủi ro khi một số thị trường lớn có những biến động, hạn chế nhập khẩu sản phẩm dệt may. Mặt khác, các doanh nghiệp dệt may phải đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng lao động, chú trọng đầu tư vào sản xuất xanh, sản xuất tuần hoàn, đáp ứng đầy đủ những quy tắc về nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa.

VnEconomy

Trước sự bất ổn của nền kinh tế toàn cầu, theo ông, mục tiêu xuất khẩu năm 2025 của ngành dệt may từ 47-48 tỷ USD liệu có bị “lung lay” không?

Trước hết, cần đặt câu hỏi tại sao chúng tôi đặt mục tiêu này, có lý do gì khiến chúng tôi đặt khát vọng này?

Lý do đầu tiên, Việt Nam là quốc gia có 16/22 Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đã được ký kết. Các Hiệp định thương mại này tạo ra thị trường có tính toàn cầu rộng lớn cho ngành công nghiệp dệt may Việt Nam.

Bên cạnh đó, quan hệ chính trị giữa Việt Nam và Hoa Kỳ tạo ra niềm tin và động lực cho xuất khẩu. Hoa Kỳ đang tạo ra một thị trường tương đối ổn định cho dệt may Việt Nam. Hoa Kỳ vẫn là thị trường xuất khẩu chiếm tỷ trọng cao nhất của dệt may Việt Nam.

Ngành dệt may Việt Nam vẫn đang thúc đẩy xuất khẩu vào Hoa Kỳ dựa trên một số trọng tâm. Cụ thể, Hoa Kỳ là đối tác xuất khẩu lớn của ngành dệt may Việt Nam với kim ngạch trên 10 tỷ USD/năm, chiếm tỷ trọng 40%. Ở chiều ngược lại, Việt Nam cũng đang nhập khẩu khoảng 38-39 mặt hàng nông nghiệp của Hoa Kỳ. Trong đó, ngành dệt may Việt Nam nhập khẩu mặt hàng bông và là khách hàng lớn nhất của ngành bông Hoa Kỳ. Sau Brazil, Australia, bông Hoa Kỳ là một trong những ưu tiên của ngành dệt may Việt Nam để phục vụ cho các nhà máy kéo sợi.

Mối quan hệ của VITAS với Hiệp hội Bông Hoa Kỳ và Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ rất tốt. Hàng năm, các bên đều tổ chức các hội thảo chuyên sâu, chuyên đề về ngành bông Hoa Kỳ và thị trường Việt Nam.

Một yếu tố tác động nữa đó là Việt Nam tự tin đáp ứng nhanh chóng những đòi hỏi về chính sách của các nước. Các doanh nghiệp đã chịu áp lực rất lớn trong nhiều năm qua và đã thích ứng rất tốt. Đặc biệt, sự đầu tư về công nghệ tự động hóa và quản trị số đã giải quyết được các bài toán về năng suất lao động, giá thành sản xuất, giữ uy tín chất lượng, giữ quan hệ hợp tác với các đối tác.

Cùng với đó, các doanh nghiệp dệt may thiết lập mục tiêu đa dạng hóa thị trường, đa dạng hóa khách hàng và sản phẩm trên nền tảng thúc đẩy các giải pháp công nghệ, tự động hóa, nâng cao năng suất lao động, tăng thị trường FOB, ODM và OBM,… như vậy giá trị thặng dư thương mại của ngành sẽ tăng lên.

VnEconomy

VnEconomy 27/03/2025 07:00

 

Nội dung đầy đủ của bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 12-2025 phát hành ngày 24/3/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:  

https://postenp.phaha.vn/tap-chi-kinh-te-viet-nam/detail/1308

VnEconomy

[Interactive]: 35 năm Thời báo Kinh tế Việt Nam – Tạp chí Kinh tế Việt Nam và 6 năm chuyển đổi toàn diện

35 năm trước, Thời báo Kinh tế Việt Nam ra đời cùng với sự đổi mới, đặc biệt là đổi mới kinh tế của đất nước, đã đồng hành và có những đóng góp, dù còn rất nhỏ bé, cho công cuộc xây dựng kinh tế đất nước. Tròn 6 năm kể từ năm 2020, Tạp chí Kinh tế Việt Nam lại tiếp tục song hành cùng sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước. Và với sự ra mắt đồng thời hai nền tảng công nghệ Asko CMS và Askonomy vào ngày 26/6/2026, Tạp chí Kinh tế Việt Nam – VnEconomy - Vietnam Economic Times nguyện sẽ đồng hành cùng Kỷ nguyên vươn mình của đất nước.

Giao diện não - máy tính: Mở ra kỷ nguyên mới trong y tế và công nghệ

Giao diện não - máy tính (Brain Computer Interface - BCI) là một công nghệ kết nối cho phép não bộ con người giao tiếp trực tiếp với các thiết bị bên ngoài mà không cần đến các thao tác vật lý. BCI có nhiều ứng dụng đa dạng, bao gồm hỗ trợ người khuyết tật, nâng cao khả năng của con người và thúc đẩy nghiên cứu. Những giao diện này có tiềm năng đáng kể để cách mạng hóa phương thức giao tiếp, chăm sóc sức khỏe và tương tác giữa con người và máy tính, mang đến những cơ hội thú vị cho tương lai.

Tầm ảnh hưởng của nghệ thuật kỹ thuật số

Trong vài thập kỷ qua, thế giới nghệ thuật đã trải qua một sự chuyển đổi mang tính đột phá với sự ra đời của công nghệ kỹ thuật số. Các công cụ và tiến bộ trong kỹ thuật số không chỉ tác động sâu sắc đến cách thức sáng tạo của các nghệ sĩ mà còn ảnh hưởng đáng kể đến cách khán giả tương tác và cảm nhận nghệ thuật.

Thách thức lớn nhất của startup Việt không phải là công nghệ

Việt Nam đang nổi lên như một trong những trung tâm khởi nghiệp về game và ứng dụng AI đáng chú ý tại châu Á. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất của các startup hiện nay không phải năng lực công nghệ mà là khả năng đưa sản phẩm ra thị trường, xây dựng đội ngũ lãnh đạo và phát triển doanh nghiệp có sức cạnh tranh toàn cầu…

Đẩy mạnh nguồn cung nhà ở cho thuê, bảo đảm phát triển bền vững đô thị

Theo thống kê, giá nhà ở tại Việt Nam hiện đã tăng 400 lần so với năm 1990. Từ quý 3/2025 đến nay, hầu hết các dự án mới ra mắt tại Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh đều có giá bán trên 100 triệu đồng/m2. Giá nhà tăng cao không chỉ ảnh hưởng tới an sinh xã hội, gây bất bình đẳng xã hội mà còn tác động tiêu cực tới quá trình phát triển kinh tế - xã hội của các đô thị lớn. Khi chi phí nhà ở chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong thu nhập, chi phí sinh hoạt tại đô thị ngày càng đắt đỏ, các doanh nghiệp phải đối mặt với thách thức trong việc thu hút và giữ chân lao động, còn lao động trẻ thì mất độ̂ng lực sở hữu nhà, dẫn đến không muốn kết hôn, sinh con...

35 năm trước, Thời báo Kinh tế Việt Nam ra đời cùng với sự đổi mới, đặc biệt là đổi mới kinh tế của đất nước, đã đồng hành và có những đóng góp, dù còn rất nhỏ bé, cho công cuộc xây dựng kinh tế đất nước. Tròn 6 năm kể từ năm 2020, Tạp chí Kinh tế Việt Nam lại tiếp tục song hành cùng sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước. Và với sự ra mắt đồng thời hai nền tảng công nghệ Asko CMS và Askonomy vào ngày 26/6/2026, Tạp chí Kinh tế Việt Nam – VnEconomy - Vietnam Economic Times nguyện sẽ đồng hành cùng Kỷ nguyên vươn mình của đất nước.

Đảng Cộng sản Việt Nam - Đại hội XIV

Đảng Cộng sản Việt Nam - Đại hội XIV

Với phương châm Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định tư duy, tầm nhìn, những quyết sách chiến lược để chúng ta vững bước tiến...

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy