Điều chúng ta cần tránh là mỗi tổ chức tiếp tục xây dựng một “ốc đảo tin cậy” với tiêu chuẩn và hạ tầng riêng. Khi đó, chi phí tích hợp sẽ rất lớn và dữ liệu khó có khả năng tương tác. Một hạ tầng tin cậy có khả năng liên thông sẽ tạo ra hiệu ứng mạng lưới cho toàn bộ nền kinh tế.
Tài sản số chỉ thực sự có giá trị khi được xây dựng trên nền tảng dữ liệu tin cậy
Bảo Bình
17/08/2026
Dữ liệu tin cậy là lớp nền tảng để hình thành tài chính số và nền kinh tế số. Nếu thiếu một hạ tầng tin cậy và khả năng liên thông dữ liệu, tài sản số khó có thể phát huy đầy đủ giá trị trong nền kinh tế…
Trong hai ngày 14 và 15/8, Ngày hội Công nghệ TPHCM – Conviction 2026 đã diễn ra với sự tham gia của các cơ quan quản lý, chuyên gia, doanh nghiệp, nhà đầu tư và cộng đồng đổi mới sáng tạo để thảo luận về chuỗi khối, tài sản số và trí tuệ nhân tạo (AI).
Bên cạnh các phiên trao đổi về xu hướng công nghệ, một nội dung đáng chú ý tại sự kiện là câu chuyện hoàn thiện chính sách, khung pháp lý cho AI, tài sản số và blockchain. Các đại biểu đã tập trung vào những vấn đề như cơ chế quản lý thị trường tài sản mã hóa, yêu cầu tuân thủ của doanh nghiệp, sở hữu trí tuệ và cơ chế thử nghiệm có kiểm soát.
CỐT LÕI CỦA KHÔNG GIAN SỐ CHÍNH LÀ DỮ LIỆU
Theo ông Nguyễn Phú Dũng, Tổng Giám đốc PILA, Việt Nam hiện đã có nhiều nền tảng pháp lý quan trọng cho việc hình thành không gian kinh tế số. Luật Giao dịch điện tử đã tạo cơ sở pháp lý cho các giao dịch trên môi trường số; trong khi các quy định về định danh và xác thực điện tử hướng tới việc ghi nhận danh tính của con người, vật thể, tài sản và các thực thể trên môi trường mạng.
Những nền tảng này có thể từng bước hình thành một “biên giới số” của Việt Nam, nơi doanh nghiệp, tài sản và các hoạt động kinh tế có thể được đưa vào một không gian số có khả năng xác thực và quản lý. Theo ông Dũng, khi nền kinh tế ngày càng chuyển dịch lên môi trường số, giá trị của tài sản số, các giao dịch số và những mô hình kinh doanh mới không chỉ phụ thuộc vào công nghệ blockchain hay các quy định pháp lý, mà trước hết cần được xây dựng trên dữ liệu có khả năng xác thực và tạo dựng niềm tin.
“Cốt lõi của không gian số chính là dữ liệu”, ông CEO PILA nói.
Theo ông, Việt Nam không thiếu dữ liệu. Vấn đề nằm ở chất lượng, khả năng xác thực và mức độ tin cậy của dữ liệu. Khi dữ liệu giữa các tổ chức, hệ thống và nền tảng chưa có khả năng liên thông hoặc chưa được xác thực đầy đủ, việc phát triển các dịch vụ tài chính, tài sản và giao dịch số ở quy mô lớn sẽ gặp nhiều trở ngại.
“Tôi cho rằng chuỗi hình thành giá trị của nền kinh tế số có ba lớp: Dữ liệu tin cậy - Tài chính tin cậy - Kinh tế tin cậy. Ba lớp này sẽ giúp chúng ta phân định rõ hơn các lớp của không gian số. Không gian về kỹ thuật chính là hạ tầng số tin cậy; không gian về tài chính là lớp tài chính số tin cậy. Từ đó, các hoạt động kinh tế có thể phát triển và hình thành một nền kinh tế số thực sự”, ông Dũng nói.
“Bởi suy cho cùng, tài sản số chỉ thực sự có giá trị khi được xây dựng trên nền tảng dữ liệu tin cậy”, ông Dũng nhấn mạnh.
CÔNG NGHỆ PHẢI ĐI TỪ BÀI TOÁN CỦA DOANH NGHIỆP
Đặt trong bức tranh rộng hơn của Conviction 2026, câu chuyện dữ liệu cũng gắn với một vấn đề lớn hơn: làm thế nào để công nghệ thực sự tạo ra giá trị kinh tế thay vì chỉ dừng ở việc trình diễn công nghệ. Ông Nguyễn Quang Vinh, Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Chủ tịch Hội đồng Doanh nghiệp vì sự phát triển bền vững (VBCSD), cho rằng công nghệ chỉ thực sự có giá trị khi giải quyết được những bài toán cụ thể của doanh nghiệp và tạo ra giá trị kinh tế, xã hội.
Theo ông Vinh, thay vì chỉ đưa công nghệ đến với doanh nghiệp, cần đưa những vấn đề mà doanh nghiệp đang gặp phải đến với công nghệ để tìm ra giải pháp phù hợp. Theo đó, AI, blockchain và dữ liệu không nên chỉ dừng ở việc trình diễn những xu hướng mới, mà phải giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, giảm chi phí, cải thiện sản phẩm, mở rộng thị trường và tăng sức cạnh tranh.
Những trao đổi tại Conviction 2026 đã cho thấy cuộc thảo luận về tài sản số tại Việt Nam đang dần dịch chuyển sang những vấn đề sâu hơn về hạ tầng, dữ liệu, danh tính, khả năng xác thực và tính liên thông. CEO PILA đã đưa ra ba đề xuất nhằm hình thành hạ tầng tin cậy và thúc đẩy khả năng liên thông dữ liệu.
Thứ nhất, hình thành một liên minh hợp tác giữa Nhà nước, viện trường và doanh nghiệp để cùng xây dựng khung quản trị dữ liệu tự chủ, bảo đảm hoạt động với danh tính tự chủ và các tiêu chuẩn kỹ thuật liên quan.
Thứ hai, hạ tầng tin cậy quốc gia trở thành một hạ tầng dùng chung, tạo tiền đề để cộng đồng doanh nghiệp và các lớp ứng dụng phát triển trong nhiều lĩnh vực như tài chính, logistics, y tế, giáo dục.
“Điều chúng ta cần tránh là mỗi tổ chức tiếp tục xây dựng một “ốc đảo tin cậy” với tiêu chuẩn và hạ tầng riêng. Khi đó, chi phí tích hợp sẽ rất lớn và dữ liệu khó có khả năng tương tác”, ông Dũng nói. “Thay vào đó, chúng ta cần một hạ tầng tin cậy có khả năng liên thông, từ đó tạo ra hiệu ứng mạng lưới cho toàn bộ nền kinh tế”.
Thứ ba, đây không chỉ là bài toán của riêng Việt Nam. Dự thảo về Hiệp định Kinh tế số ASEAN, dự kiến được ký kết vào tháng 11 năm nay, đang mở ra triển vọng thúc đẩy một nền kinh tế số quy mô hơn 2.000 tỷ USD trong khu vực Đông Nam Á.
“Điều đó đòi hỏi các quốc gia phải có những hạ tầng tin cậy và khả năng liên thông liên quốc gia với nhau. Khi đó, danh tính số có thể được xác thực xuyên biên giới, các bằng chứng số có thể được xác minh xuyên biên giới và dữ liệu có thể trở thành nền tảng để hình thành các loại tài sản số”, ông Nguyễn Phú Dũng nói.
Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội vừa phát động Cuộc thi Nghiên cứu - Sáng tạo, kết nối học sinh, sinh viên với giảng viên, nhà khoa học, doanh nghiệp công nghệ năm 2026, với tên gọi “Sáng tạo trẻ Hà Nội 2026”...
Khi doanh nghiệp phải đo lường, báo cáo và chứng minh dấu chân carbon, công nghệ và dữ liệu trở thành một phần ngày càng quan trọng trong vận hành nhà máy sản xuất…
Một hướng tiếp cận đang được nhiều nhà mạng trên thế giới nghiên cứu và ứng dụng là xây dựng các nền tảng AI doanh nghiệp có khả năng "đọc và hiểu" dữ liệu kỹ thuật, hệ thống vận hành, và tài liệu nội bộ… sau đó phản hồi được đưa ra bằng ngôn ngữ tự nhiên.
Thay vì sao chép mô hình của các trung tâm tài chính lớn, Việt Nam hoàn toàn có thể khẳng định vị thế riêng trong cuộc đua tài chính số châu Á bằng cách biến hạ tầng công nghệ thành giá trị thực cho nền kinh tế sản xuất và thương mại rộng lớn của mình.
Trong bối cảnh nền kinh tế nhiều biến động, bài toán của các nhà quản trị Việt không dừng lại ở việc tiếp cận các lý thuyết quản trị. Điểm nghẽn lớn nhất nằm ở khả năng ứng dụng: Làm sao để mang những chuẩn mực tri thức của thế giới để giải quyết chính những bài toán vận hành tại thị trường trong nước?
Trí tuệ nhân tạo (AI) được cho là công nghệ tiềm năng không chỉ giúp dự báo những điểm nóng ùn tắc mà còn có khả năng “bắt bệnh”, làm rõ nguyên nhân gốc rễ gây kẹt xe...
Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội Trương Việt Dũng khẳng định quyết tâm đổi mới tư duy quản lý của chính quyền thủ đô, nhấn mạnh niềm tin của doanh nghiệp là yếu tố quan trọng để thúc đẩy đầu tư, đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế số…
Thực hiện Kế hoạch số 342/KH-UBND ngày 30/8/2026 của UBND Thành phố, chiều ngày 30/9/2026, UBND thành phố Hà Nội tổ chức “Hội nghị xử lý điểm nghẽn của doanh nghiệp khoa học và công nghệ, khởi nghiệp sáng tạo và công nghệ số”...
Thước đo của đổi mới sáng tạo trong trường đại học cần dịch chuyển từ số lượng startup sang giá trị tạo ra cho thị trường, người dùng và doanh nghiệp…
Trong kỷ nguyên số, hoạt động xuất khẩu ngày càng đòi hỏi doanh nghiệp không chỉ đáp ứng yêu cầu thị trường mà còn phải định vị đúng sản phẩm, ứng dụng công nghệ số để xây dựng thương hiệu, đáp ứng kỳ vọng ngày càng cao của người tiêu dùng quốc tế…