Doanh nghiệp bán dẫn Hà Lan tìm kiếm nhà cung cấp tại Việt Nam
Bảo Bình
15/10/2026
Chia sẻ
Nhiều doanh nghiệp Hà Lan đang hoạt động tại Việt Nam, cũng như những doanh nghiệp có thể đầu tư vào Việt Nam trong tương lai, đều có nhu cầu tìm kiếm nhà cung cấp trong nước…
Bà Fleur Gribnau, Bí thư thứ nhất phụ trách Kinh tế, Đại sứ quán Hà Lan. Ảnh: B.B
Chia sẻ tại Hội nghị chuyên sâu SemiConnect 2026, bà Fleur Gribnau, Bí thư thứ nhất phụ trách Kinh tế, Đại sứ quán Hà Lan, cho biết nhiều doanh nghiệp Hà Lan đang hoạt động tại Việt Nam, cũng như những doanh nghiệp có thể đầu tư vào Việt Nam trong tương lai, đều có nhu cầu tìm kiếm nhà cung cấp trong nước.
CƠ HỘI ĐỂ DOANH NGHIỆP VIỆT THAM GIA MẠNG LƯỚI CUNG ỨNG
Một số doanh nghiệp bán dẫn Hà Lan đã hiện diện tại Việt Nam, trong đó VDL và Besi có cơ sở sản xuất thiết bị, linh kiện phục vụ ngành bán dẫn; Lucassen Precision Asia sản xuất chi tiết cơ khí chính xác; còn NXP có văn phòng bán hàng và nghiên cứu phát triển tại Hà Nội. Theo bà Gribnau, một số doanh nghiệp đã hoạt động tại Việt Nam hơn một thập kỷ, trong khi những doanh nghiệp khác đang cân nhắc mở rộng sản xuất.
Nhu cầu tìm kiếm nhà cung cấp của các doanh nghiệp này mở ra cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào mạng lưới cung ứng thiết bị, linh kiện, chi tiết cơ khí chính xác và dịch vụ kỹ thuật phục vụ sản xuất công nghệ cao. Tuy nhiên, việc có mặt tại Việt Nam không đồng nghĩa các doanh nghiệp Hà Lan sẽ tự động lựa chọn nhà cung cấp trong nước. Khả năng tham gia chuỗi cung ứng còn phụ thuộc vào năng lực đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng sản phẩm và tiến độ giao hàng của từng doanh nghiệp.
Cơ hội này gắn với đặc điểm của ngành bán dẫn Hà Lan. Theo số liệu bà Gribnau chia sẻ, hệ sinh thái bán dẫn nước này có hơn 300 doanh nghiệp, doanh thu đạt 46 tỷ euro năm 2025 và khoảng 43.000 lao động. Bên cạnh các tập đoàn lớn như ASML, ASM International, NXP, Nexperia và Besi, Hà Lan còn có mạng lưới doanh nghiệp hỗ trợ tham gia nhiều công đoạn của chuỗi giá trị. Thế mạnh nổi bật của nước này là thiết bị phục vụ sản xuất bán dẫn.
Đại diện Đại sứ quán Hà Lan cho rằng với mạng lưới doanh nghiệp hoạt động trong nhiều công đoạn, từ thiết kế, chế tạo wafer, hoàn thiện chip đến kiểm thử, lắp ráp bảng mạch và tích hợp hệ thống, nhu cầu hợp tác không chỉ giới hạn ở một nhóm sản phẩm nhất định. Đây là cơ sở để doanh nghiệp Việt Nam tìm hiểu yêu cầu cụ thể của từng đối tác, xác định những khâu có thể tham gia và từng bước xây dựng quan hệ cung ứng dài hạn.
NÂNG CAO NĂNG LỰC SẢN XUẤT, ĐÁP ỨNG NHU CẦU ĐỐI TÁC
Theo bà Gribnau, để trở thành nhà cung cấp cho các doanh nghiệp Hà Lan, doanh nghiệp Việt Nam cần có khả năng cung ứng hàng hóa và dịch vụ ổn định, tổ chức sản xuất bài bản và kinh nghiệm xử lý các sản phẩm có giá trị cao.
Nhiều doanh nghiệp Hà Lan đang hoạt động tại Việt Nam, cũng như những doanh nghiệp có thể đầu tư vào Việt Nam trong tương lai, đều có nhu cầu tìm kiếm nhà cung cấp trong nước. Ảnh: B.B
Một hướng sản xuất được bà lưu ý là mô hình đa dạng chủng loại, số lượng ít nhưng có độ phức tạp cao. Thay vì chỉ tập trung sản xuất hàng loạt những linh kiện đơn giản, doanh nghiệp cần có khả năng đáp ứng nhiều loại sản phẩm với các yêu cầu kỹ thuật khác nhau.
Đây là hướng đi đòi hỏi doanh nghiệp đầu tư vào năng lực kỹ thuật, quy trình kiểm soát chất lượng và khả năng tổ chức sản xuất linh hoạt. Đối với các nhà cung cấp muốn tham gia chuỗi cung ứng công nghệ cao, việc đáp ứng yêu cầu của khách hàng không chỉ nằm ở giá thành mà còn ở độ chính xác, tính ổn định và khả năng duy trì chất lượng qua nhiều lô hàng.
Việt Nam có một số nền tảng để phát triển theo hướng này, gồm ngành sản xuất điện tử, công nghiệp hỗ trợ, cơ khí chính xác và kinh nghiệm tham gia các chuỗi cung ứng toàn cầu. Theo bà Gribnau, những lợi thế đó có thể giúp Việt Nam mở rộng hoạt động sang các công đoạn có giá trị cao hơn trong ngành bán dẫn.
Bên cạnh năng lực sản xuất hiện có, vị trí địa lý của Việt Nam giữa các trung tâm bán dẫn quan trọng của châu Á, mạng lưới hiệp định thương mại song phương và đa phương cùng khả năng tiếp cận thị trường quốc tế cũng là những lợi thế đáng chú ý.
Bà Gribnau cho biết Chính phủ Việt Nam có định hướng rõ ràng đối với phát triển ngành bán dẫn và sẵn sàng đầu tư vào hệ sinh thái. Bà cũng ghi nhận xu hướng gia tăng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực này tại Việt Nam.
Bà Fleur Gribnau cho biết Việt Nam có nhiều lợi thế để phát triển ngành bán dẫn, từ định hướng rõ ràng của Chính phủ đến sự sẵn sàng đầu tư vào hệ sinh thái ngành. Bên cạnh đó, vị trí địa lý chiến lược, nằm giữa các trung tâm bán dẫn quan trọng của châu Á, cùng mạng lưới các hiệp định thương mại song phương và đa phương giúp Việt Nam tăng khả năng kết nối với thị trường quốc tế.
Việt Nam cũng có nguồn lao động dồi dào, chi phí cạnh tranh và đang ghi nhận sự gia tăng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực bán dẫn.
Ngoài ra, Việt Nam đã xây dựng được nền tảng sản xuất điện tử tương đối vững chắc, cùng các ngành công nghiệp hỗ trợ như cơ khí chính xác. Kinh nghiệm tham gia và vận hành trong các chuỗi cung ứng toàn cầu cũng là một lợi thế quan trọng, giúp Việt Nam có khả năng tiếp cận thị trường quốc tế và đóng góp nhiều hơn cho chuỗi giá trị bán dẫn.
Tuy nhiên, để tận dụng những lợi thế đó, doanh nghiệp trong nước cần chuyển từ khả năng sản xuất nói chung sang năng lực đáp ứng những yêu cầu cụ thể của ngành bán dẫn. Việc xác định đúng nhóm sản phẩm, công đoạn và tiêu chuẩn mà các đối tác Hà Lan cần sẽ là bước quan trọng để thu hẹp khoảng cách giữa tiềm năng hợp tác và khả năng tham gia thực tế.
HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG LAO ĐỘNG TẠI VIỆT NAM
Bên cạnh kết nối nhà cung cấp và nâng cao năng lực sản xuất, phát triển nhân lực là một hướng hợp tác khác giữa Hà Lan và Việt Nam. Theo bà Gribnau, phía Hà Lan đang xem xét các dự án hỗ trợ phát triển lực lượng lao động tại Việt Nam, tập trung nhiều hơn vào đào tạo nghề và các kỹ năng chuyên biệt cần thiết trong các cơ sở sản xuất bán dẫn.
“Chúng tôi thấy có nhu cầu đào tạo kỹ sư, nhưng cũng thấy rõ nhu cầu về công nhân có các kỹ năng chuyên biệt cần thiết trong các cơ sở sản xuất bán dẫn”, bà Gribnau nhấn mạnh.
Nhu cầu này cho thấy phát triển nhân lực bán dẫn không chỉ là bài toán đào tạo kỹ sư mà còn liên quan đến đội ngũ kỹ thuật viên và lao động có khả năng vận hành thiết bị, thực hiện các quy trình sản xuất và kiểm soát chất lượng. Đây cũng là lực lượng cần thiết để doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực cung ứng, đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật và duy trì hoạt động sản xuất ổn định.
Kinh nghiệm phát triển ngành bán dẫn của Hà Lan cho thấy vai trò của sự liên kết giữa doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu, tổ chức đào tạo và cơ quan quản lý. Hệ sinh thái bán dẫn nước này được hình thành qua hơn 40 năm, với các mối quan hệ hợp tác dài hạn giữa doanh nghiệp và sự tham gia của các viện nghiên cứu, cơ sở đào tạo cùng chính phủ. Nhiều doanh nghiệp trong ngành có nguồn gốc trực tiếp hoặc gián tiếp từ tập đoàn Philips, góp phần hình thành mạng lưới nhân lực và quan hệ hợp tác trong lĩnh vực công nghệ.
Theo bà Gribnau, một ngành bán dẫn mạnh không thể chỉ dựa vào doanh nghiệp, mà còn cần các tổ chức nghiên cứu tạo ra tri thức mới và chính phủ xây dựng điều kiện thuận lợi cho đầu tư, đổi mới sáng tạo và phát triển nhân lực. Những yếu tố này có ý nghĩa đối với Việt Nam trong quá trình mở rộng hệ sinh thái, tăng cường liên kết giữa đào tạo, nghiên cứu và nhu cầu thực tế của doanh nghiệp.
Đối với hợp tác Hà Lan – Việt Nam, việc kết nối doanh nghiệp cần được đặt trong mối liên hệ với đào tạo nhân lực và nâng cao năng lực công nghiệp hỗ trợ. Khi doanh nghiệp trong nước có thể đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, duy trì chất lượng và bảo đảm nguồn cung, cơ hội hợp tác mới có thể chuyển thành các mối quan hệ cung ứng lâu dài.
“Nhìn về phía trước, chúng tôi nhận thấy không ít cơ hội hợp tác Hà Lan – Việt Nam. Việt Nam có tiềm năng rất lớn, thị trường bán dẫn đang tăng trưởng. Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi ngày càng nhiều công ty Hà Lan xem Việt Nam là địa điểm đầu tư tiềm năng tiếp theo”, bà Gribnau nhận định.
Nhiều doanh nghiệp Hà Lan đang hoạt động tại Việt Nam, cũng như những doanh nghiệp có thể đầu tư vào Việt Nam trong tương lai, đều có nhu cầu tìm kiếm nhà cung cấp trong nước…
Việt Nam định hướng phát triển công nghiệp bán dẫn gắn với nhu cầu của các lĩnh vực như viễn thông, tự động hóa, năng lượng và giao thông, đồng thời tăng cường liên kết giữa thiết kế chip, nghiên cứu, sản xuất điện tử và phát triển chuỗi cung ứng...
Sinh viên đang thiếu những kỹ năng doanh nghiệp cần như kỹ năng con người, kỹ năng cá nhân hay kỹ năng mềm, trong khi lại rất tốt về năng lực số. Song năng lực số lại là lĩnh vực mà AI đang ngày càng có khả năng đảm nhiệm tốt hơn…
UAV mới chỉ là điểm khởi đầu của kinh tế tầm thấp. Giá trị lớn hơn nằm ở khả năng kết nối thiết bị, khai thác dữ liệu và phát triển những dịch vụ mới từ nền tảng công nghệ dùng chung…
Việc ban hành Danh mục dữ liệu mở và dữ liệu dùng chung nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng dữ liệu, hạn chế việc thu thập hoặc yêu cầu cung cấp lại những thông tin đã có...
Việc khuyến khích đổi mới và ứng dụng AI trong dịch vụ công cần đi cùng những yêu cầu cụ thể về an toàn, cơ chế kiểm soát và trách nhiệm trong quá trình thực hiện…
Đáng chú ý, Hà Nội đang chuyển cách tiếp cận từ “làm khoa học, công nghệ” sang sử dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để giải quyết các bài toán phát triển….
Với sự tiến bộ của AI, đào tạo và phát triển con người trong năm 2027 sẽ hướng đến các chương trình mang tính thực tiễn, được thiết kế theo bối cảnh doanh nghiệp, giảm bớt những chương trình học tách biệt mà thay vào đó là các chuỗi đào tạo giúp tăng năng lực thực thi cho tổ chức...
Tại Chương trình chào mừng Ngày Chuyển đổi số quốc gia 2026, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân đã đưa ra năm nhóm nhiệm vụ trọng tâm, đưa chuyển đổi số trở thành động lực thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo…