Làm thế nào để giảm chi phí cho logistics trong thương mại điện tử?
Gia Bảo
21/07/2022
Ứng dụng các công nghệ hiện đại, tự động như AI, thậm chí như cả drone giao hàng là một trong những giải pháp giúp giảm chi phí logistics ở một lĩnh vực đặc thù với số lượng đơn hàng lớn và cần đi đến nhiều địa điểm khác nhau như thương mại điện tử…
Chia sẻ tại The WISE Talk số thứ 03 với chủ đề: “Cơ hội và thách thức nào cho Việt Nam trở thành điểm đến tiếp theo về đầu tư e-logistics trong khu vực Đông Nam Á?” sáng 20/7, ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất Nhập khẩu, Bộ Công Thương, một chuyên gia giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực xuất nhập khẩu và logistics cho biết, Việt Nam là quốc gia có dân số trẻ với khả năng tiếp cận công nghệ nhanh nhạy, cộng thêm đó là quy mô thị trường kinh tế số Việt Nam được dự báo khoảng trên 50 tỷ USD.
“Đây là tiềm năng lớn đối với thương mại điện tử và ngành logistics trong thương mại điện tử”, ông Hải khẳng định.
Nói đến các thách thức trong logistics nói chung và e-logistics nói riêng, một trong các khó khăn phải kể đến nhiều nhất là chi phí logistics. Một báo cáo về Chỉ số Logistics thị trường mới nổi 2021 do nhà cung cấp dịch vụ kho vận hàng đầu thế giới Agility công bố hồi cuối năm ngoái cho thấy, chi phí logistics của Việt Nam còn cao, chiếm khoảng hơn 20% GDP. Trong khi đó, mức chi phí logistics trung bình trên thế giới, chỉ khoảng 11% GDP.
Ông Hải lý giải, chi phí logistics là tổng hợp của mảng trong đó có liên quan trước hết là vấn đề về hạ tầng. Theo đó, Việt Nam đã có hệ thống mạng lưới đường cao tốc phát triển rất nhanh và có thêm nhiều cảng, sân bay mới. “Tuy nhiên, tính kết nối giữa các hệ thống này vẫn còn là một vấn đề”, ông Hải chia sẻ và cho biết, sự lệ thuộc quá lớn vào vận tải đường bộ là một thách thức rất lớn trong vấn đề giảm chi phí logistics.
Yếu tố thứ hai được chuyên gia này chỉ ra là các vấn đề liên quan đến năng lực của các doanh nghiệp kể cả doanh nghiệp sản xuất cũng như các bên cung cấp dịch vụ. “Xét về tính chuyên nghiệp, khả năng đáp ứng các yêu cầu về mặt thời gian, về mặt hiệu suất, đây cũng là một câu chuyện”, ông Hải nói thêm.
Yếu tố thứ ba là các vấn đề về thủ tục, trong hoạt động logistics có liên quan đến cả các thủ tục của cơ quan quản lý nhà nước ví dụ cơ quan Hải quan, tốc độ thông quan, tốc độ kiểm tra hàng hóa xuất nhập khẩu… Đây cũng là các yếu tố gây tác động đến vấn đề chi phí.
Cục phó Cục Xuất Nhập khẩu cũng cho biết hiện nay công nghệ đã được ứng dụng rất nhiều trong các khâu và trong các chuỗi hoạt động của logistics. Ví dụ như đối với hoạt động vận tải, đã có các đơn vị phát triển những ứng dụng hay nền tảng để sử dụng chung phương tiện như xe tải, container, hoặc tối ưu hóa việc chia sẻ sử dụng không gian kho.
Hoặc trong lĩnh vực kho bãi, việc vận hành quản lý kho lớn, đặc biệt nhiều hàng hóa cũng đòi hỏi phần mềm quản lý kho thích hợp. Những công nghệ như AI (trí tuệ nhân tạo) đã được sử dụng nhằm giúp tự động hóa quá trình quản lý kho một cách chính xác hơn.
Trong những lĩnh vực khác như cung cấp dịch vụ công, cơ quan, hải quan, hoạt động quản lý nhà nước cũng sử dụng các phần mềm để thúc đẩy việc thông quan, quản lý chuyên ngành cũng được nhanh chóng thuận tiện hơn…
Ông Hải nhấn mạnh rằng việc ứng dụng được công nghệ vào trong hoạt động logistics sẽ giúp giảm bớt các chi phí. Cụ thể, khi ứng dụng tự động hóa nhiều hơn sẽ làm giảm bớt sự can thiệp của con người trong các khâu và chuỗi cung ứng logistics.
“Đặc biệt là trong hoạt động thương mại điện tử, với đặc thù là số lượng đơn hàng lớn và cần đi đến nhiều địa điểm khác nhau, việc xử lý tự động giúp cho tăng hiệu suất, giảm thời gian và tăng độ chính xác”, ông Hải chia sẻ. Chuyên gia này khẳng định, ứng dụng công nghệ như vậy không chỉ giúp giảm chi phí mà còn giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian, tăng hiệu quả, lợi nhuận về logistics trong thương mại điện tử.
Đặc biệt trong thương mại điện tử, sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn cũng tạo ra các bài toán lớn về chi phí mà nhiều đơn vị cung ứng dịch vụ logistics cần phải giải. Ông Hải nhận định, các vùng nông thôn của Việt Nam có đặc thù là phạm vi địa lý rộng và mật độ dân cư thưa. Bên cạnh đó, tỷ lệ mua sắm chưa cao như thành phố nên người giao hàng phải di chuyển quãng đường khá dài.
“Yếu tố chi phí ở đây có thể không phải nằm ở tỷ lệ giao hàng thành công lần đầu tiên mà nằm ở quãng đường di chuyển”, ông Hải chia sẻ. Chẳng hạn, đơn hàng đầu tiên mà shipper phải giao có thể ở xã này, nhưng đến đơn thứ hai có thể là ở một xã khác, thậm chí ở một huyện khác.
“Quá trình vận chuyển đó có thể là rất xa. Điều này vừa làm mất thời gian vừa gây tốn kém về chi phí di chuyển. Đấy cũng là một yếu tố mà chúng ta cũng phải tính đến”, ông Hải nói thêm.
Chuyên gia này cũng cho biết, để giải các bài toán này, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ hoặc một số doanh nghiệp liên kết với nhau có thể xây dựng những kho vệ tinh ở khu vực từng huyện hoặc một số huyện, từ đó giúp giảm thời gian mà người giao hàng phải luân chuyển quá xa.
“Đấy cũng là một giải pháp để giảm chi phí trong tương lai. Và nếu công nghệ phát triển hơn, việc sử dụng các giải pháp tự động giao hàng như drone (máy bay không người lái) cũng rất tốt vì sẽ giúp rút ngắn quá trình di chuyển và đặc biệt các công nghệ như vậy vẫn có thể hoạt động mà không phụ thuộc vào địa hình, kể cả ở khu vực miền núi”, ông Hải nhận định.
Từ khóa:
Sự kết hợp giữa công nghệ sinh học với trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và điện toán đám mây đang rút ngắn thời gian nghiên cứu, giảm chi phí và mở rộng cơ hội thương mại hóa các sáng chế sinh học…
Để vượt khoảng trống “thung lũng chết” giữa kết quả nghiên cứu biotech và thị trường, nhà khoa học phải bước qua chiếc "cầu vàng" đòi hỏi nhiều nguồn lực, từ vốn, mô hình khởi nghiệp, trang thiết bị, mặt bằng sản xuất đến năng lực tư vấn chuyên sâu và đăng kí sở hữu trí tuệ…
Từ thực tiễn gây dựng doanh nghiệp tại Thung lũng Silicon, nhà sáng lập Got It, Inc., Trần Việt Hùng khẳng định đại học chính là bệ phóng chiến lược giúp Việt Nam bứt phá bằng trí tuệ và đào tạo nên thế hệ kỹ sư đủ sức giải quyết các bài toán tầm vóc toàn cầu.
Cuộc cạnh tranh trí tuệ nhân tạo (AI) giữa Mỹ và Trung Quốc đang mở rộng từ chip bán dẫn, mô hình ngôn ngữ và năng lực tính toán sang một mặt trận ít được chú ý hơn: khả năng huy động, tổ chức và phân bổ nguồn vốn.
Nhiều doanh nghiệp Hà Lan đang hoạt động tại Việt Nam, cũng như những doanh nghiệp có thể đầu tư vào Việt Nam trong tương lai, đều có nhu cầu tìm kiếm nhà cung cấp trong nước…
Việt Nam định hướng phát triển công nghiệp bán dẫn gắn với nhu cầu của các lĩnh vực như viễn thông, tự động hóa, năng lượng và giao thông, đồng thời tăng cường liên kết giữa thiết kế chip, nghiên cứu, sản xuất điện tử và phát triển chuỗi cung ứng...
Sinh viên đang thiếu những kỹ năng doanh nghiệp cần như kỹ năng con người, kỹ năng cá nhân hay kỹ năng mềm, trong khi lại rất tốt về năng lực số. Song năng lực số lại là lĩnh vực mà AI đang ngày càng có khả năng đảm nhiệm tốt hơn…
UAV mới chỉ là điểm khởi đầu của kinh tế tầm thấp. Giá trị lớn hơn nằm ở khả năng kết nối thiết bị, khai thác dữ liệu và phát triển những dịch vụ mới từ nền tảng công nghệ dùng chung…
Việc ban hành Danh mục dữ liệu mở và dữ liệu dùng chung nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng dữ liệu, hạn chế việc thu thập hoặc yêu cầu cung cấp lại những thông tin đã có...
Việc khuyến khích đổi mới và ứng dụng AI trong dịch vụ công cần đi cùng những yêu cầu cụ thể về an toàn, cơ chế kiểm soát và trách nhiệm trong quá trình thực hiện…