“Designed in Vietnam” không chỉ đơn giản là doanh nghiệp tự vẽ ra một sản phẩm. Đó còn là năng lực hiểu thị trường, nhận diện nhu cầu, tùy biến sản phẩm, kiểm soát chất lượng và xây dựng trải nghiệm phù hợp với từng nhóm khách hàng.
Từ “Made in Vietnam” đến “Designed in Vietnam”: Bước tiến khó hơn của doanh nghiệp Việt
Bảo Bình
10/09/2026
Kỳ vọng của các đối tác kinh doanh toàn cầu đối với Việt Nam đang thay đổi. Chi phí vẫn là lợi thế quan trọng, nhưng không còn là yếu tố duy nhất quyết định khả năng cạnh tranh…
Ngành sản xuất của Việt Nam đang bước vào một giai đoạn mới. Từ chỗ ban đầu chỉ là một cơ sở sản xuất dựa vào lợi thế chi phí, Việt Nam đang chuyển mình thành một nền kinh tế công nghiệp phức hợp hơn với giá trị gia tăng cao hơn.
Tại phiên thảo luận “Tương lai ngành sản xuất Việt Nam: Từ cơ sở sản xuất trở thành cường quốc công nghiệp” diễn ra trong khuôn khổ Hội nghị Sản xuất Công nghiệp Quốc tế 2026 (International Manufacturing Congress - IMC 2026), các chuyên gia cho rằng bước tiến tiếp theo của doanh nghiệp Việt không chỉ là gia tăng năng lực sản xuất, mà phải tiến tới làm chủ thiết kế, nghiên cứu phát triển, thương hiệu, phân phối và trải nghiệm khách hàng.
Đặc biệt, kỳ vọng từ các đối tác toàn cầu đang thay đổi; năng suất, chất lượng và khả năng mở rộng quy mô đang trở nên quan trọng không kém yếu tố chi phí.
SẢN XUẤT TẠI VIỆT NAM ĐANG CÓ SỰ CHUYỂN DỊCH RÕ RỆT
Theo bà Đỗ Hương, Giám đốc phụ trách Quan hệ Chính phủ tại Việt Nam, Tập đoàn Intel, sau 20 năm hoạt động, sản xuất của Intel tại Việt Nam đã có sự chuyển dịch rõ rệt, từ nền tảng chi phí thấp sang các sản phẩm có chất lượng cao và công nghệ tiên tiến. Nhà máy Intel Việt Nam hiện là một trong những cơ sở đóng gói và kiểm thử lớn của tập đoàn.
Bà Hương cho rằng sự phát triển của ngành điện tử, bán dẫn tại Việt Nam cho thấy năng lực sản xuất trong nước đã được nâng lên đáng kể. Tuy nhiên, cơ hội tiếp theo không chỉ nằm ở việc tiếp tục thu hút các nhà máy, mà còn ở phát triển hệ sinh thái nhà cung ứng nội địa, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của các nhà sản xuất sản phẩm cuối cùng.
Trong thời gian tới, trọng tâm có lẽ sẽ là phát triển hệ sinh thái các nhà cung ứng trong nước để đáp ứng nhu cầu của các nhà sản xuất sản phẩm cuối cùng, và phát triển chuyên sâu hơn trong thị trường Việt Nam
“Trong thời gian tới, trọng tâm có lẽ sẽ là phát triển hệ sinh thái các nhà cung ứng trong nước để đáp ứng nhu cầu của các nhà sản xuất sản phẩm cuối cùng, và phát triển chuyên sâu hơn trong thị trường Việt Nam”, đại diện Intel cho biết.
Ông Bùi Đức Thọ, Tổng Giám đốc, Airspeed Manufacturing, một công ty sản xuất của Mỹ tại Việt Nam, cho rằng chi phí vẫn là lợi thế quan trọng, nhưng không còn là yếu tố duy nhất quyết định khả năng cạnh tranh.
Doanh nghiệp của ông hiện có ba nhà máy tại Việt Nam và đã hoạt động khoảng 10 năm tại Thành phố Hồ Chí Minh. Bên cạnh lợi thế về chi phí, công ty đã tham gia vào những công đoạn có giá trị gia tăng cao như lắp ráp, kiểm thử, đồng thời phối hợp với khách hàng ngay từ giai đoạn thiết kế sản phẩm.
Theo ông Thọ, việc cùng khách hàng thực hiện thiết kế sản phẩm, thử nghiệm, chạy thử và tối ưu hóa thiết kế giúp nâng cao mức độ tin tưởng đối với nhà máy tại Việt Nam. Đây cũng là bước chuyển quan trọng, bởi doanh nghiệp không chỉ nhận bản thiết kế để gia công, mà bắt đầu tham gia vào quá trình hình thành sản phẩm.
“Điều đó giúp tăng sự tin tưởng của khách hàng đối với các nhà máy Việt Nam. Ngoài chuyện chi phí rẻ, những giá trị liên quan tới công nghệ cao cũng như năng lực nghiên cứu – phát triển của Việt Nam là một trong những lợi thế mà Việt Nam nên tiếp tục phát triển và đẩy mạnh hơn nữa”, ông Thọ nhận định.
THU HÚT NHÀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ MỚI CHỈ LÀ MỘT PHẦN CÂU CHUYỆN
Tuy nhiên, để chuyển từ sản xuất theo thiết kế của khách hàng sang tự thiết kế sản phẩm, doanh nghiệp phải chấp nhận một mức độ rủi ro lớn hơn. Theo ông Dzung Tri Pham, Tổng Giám đốc điều hành Vicostone, thu hút các nhà đầu tư quốc tế đến sản xuất tại Việt Nam mới chỉ là một phần của câu chuyện. Bước tiếp theo là làm thế nào để hàng hóa và sản phẩm do doanh nghiệp Việt Nam tạo ra có thể đi ra thế giới.
Ông cho biết Vicostone đã phải đầu tư từng bước trong khoảng 25 năm để thuyết phục khách hàng và xây dựng vị thế trên thị trường quốc tế. Doanh nghiệp không chỉ đầu tư vào sản xuất, mà còn phải dành nguồn lực cho nghiên cứu phát triển, xây dựng thương hiệu, phân phối, nghiên cứu thị trường và dịch vụ khách hàng.
Theo ông Dzung Tri Pham, nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn có xu hướng ưu tiên đầu tư vào nhà máy, nhà xưởng, máy móc và thiết bị công nghệ bởi đây là những khoản đầu tư có thể lượng hóa tương đối rõ. Ngược lại, giá trị của thương hiệu, nghiên cứu phát triển hay hệ thống phân phối thường khó được thể hiện ngay trên bảng cân đối kế toán.
“Đầu tư về thương hiệu, đầu tư vào chuỗi giá trị rất khó lượng hóa được giá trị bằng những con số cụ thể – giá trị thương hiệu là vô hình, khó đo đếm”, ông Dzung Tri Pham phân tích. Vì vậy, nhiều doanh nghiệp vẫn chú trọng hơn vào những tài sản hữu hình, thay vì đầu tư cho những yếu tố quyết định khả năng làm chủ thị trường.
Từ kinh nghiệm của Vicostone, ông cho rằng muốn làm chủ phân phối thì doanh nghiệp phải có thiết kế riêng. Muốn có thiết kế riêng, doanh nghiệp phải đầu tư cho nghiên cứu phát triển và nghiên cứu thị trường. Sau đó, doanh nghiệp tiếp tục phải đo lường trải nghiệm khách hàng để biết sản phẩm có thực sự đáp ứng nhu cầu hay không.
“Đó là cách Vicostone đã làm, từng bước một: bắt đầu từ sản xuất, sau đó đến nghiên cứu phát triển, xây dựng thương hiệu, rồi đến nghiên cứu thị trường để làm thiết kế và tiếp tục đo lường phản hồi khách hàng”, ông chia sẻ.
Tuy vậy, ông cho rằng không thể áp dụng một công thức chung cho mọi thị trường. Ông Dzung Tri Pham dẫn chứng, khách hàng tại châu Âu, Bắc Mỹ và Nhật Bản có những yêu cầu khác nhau đối với cùng một sản phẩm. Với thị trường Nhật Bản, sản phẩm bề mặt cần mỏng, nhẹ nhưng có độ bền uốn tốt để phù hợp với điều kiện động đất. Trong khi đó, người tiêu dùng Mỹ có thể ưu tiên những sản phẩm dày, lớn và tạo cảm giác mạnh mẽ.
Điều đó cho thấy “Designed in Vietnam” không chỉ đơn giản là doanh nghiệp tự vẽ ra một sản phẩm. Đó còn là năng lực hiểu thị trường, nhận diện nhu cầu, tùy biến sản phẩm, kiểm soát chất lượng và xây dựng trải nghiệm phù hợp với từng nhóm khách hàng.
Ông Dzung Tri Pham cho rằng các doanh nghiệp Việt Nam cần mạnh dạn hơn khi bước ra thị trường quốc tế, đồng thời dành một phần nguồn lực cho việc khai phá thị trường thay vì chỉ tập trung vào đất đai, nhà xưởng và máy móc. Ông cũng nhấn mạnh các doanh nghiệp Việt Nam không nhất thiết phải coi nhau là đối thủ, bởi một hệ sinh thái mạnh sẽ tạo điều kiện để nhiều doanh nghiệp cùng phát triển.
LÀM CHỦ CHUỖI GIÁ TRỊ CẦN CÔNG NGHỆ, NHÂN LỰC VÀ VỐN
Ông Michael Piro, Đồng Tổng Giám đốc điều hành, Indochina Capital, cho rằng cơ hội lớn nhất của “Made in Vietnam” không còn nằm ở việc chỉ hiện diện trong chuỗi cung ứng toàn cầu, mà là sở hữu một phần của chuỗi cung ứng đó.
Theo ông, Việt Nam đã làm tốt công đoạn lắp ráp và tạo ra việc làm, nhưng vẫn có thể tạo ra nhiều giá trị hơn thông qua đào tạo kỹ sư, đầu tư hạ tầng, nghiên cứu phát triển, công nghệ và xây dựng thương hiệu. “Chúng ta có thể tạo ra nhiều giá trị hơn nữa”, ông nói, đồng thời nhấn mạnh sự khác biệt giữa Việt Nam với các nền kinh tế trong khu vực sẽ nằm ở giáo dục, thương hiệu và khả năng gia tăng giá trị trong chuỗi cung ứng.
Ông Bùi Đức Thọ của Airspeed Manufacturing cho biết cách đây khoảng 3 - 4 năm, 80 - 90% nguyên vật liệu của công ty vẫn phải nhập khẩu. Nay tỷ lệ nội địa hóa đã đạt gần 67% và doanh nghiệp đặt mục tiêu có thể nâng lên 75% vào cuối năm.
Tuy nhiên, nội địa hóa không chỉ là tìm kiếm thêm nhà cung cấp trong nước. Doanh nghiệp còn phải xây dựng một hệ thống quản trị đủ năng lực để kiểm soát chất lượng, sản lượng, tồn kho, tiêu hao và hiệu suất sản xuất.
Công ty của ông Thọ đã áp dụng trí tuệ nhân tạo tại cả ba nhà máy, giúp dự đoán tình hình sản xuất, kiểm soát chất lượng và sản lượng theo thời gian thực. Hệ thống cũng hỗ trợ tính toán mức tiêu hao, kế hoạch sản xuất và những điểm gây lãng phí trong nhà máy.
Sau hai năm áp dụng AI vào quản lý, ông Thọ cho biết hiệu suất vận hành đã tăng so với giai đoạn trước. Theo ông, kết quả này đến từ khả năng phát hiện nhanh các vấn đề, sử dụng dữ liệu để ra quyết định và liên kết chặt chẽ giữa sản xuất, chuỗi cung ứng và tồn kho.
Bên cạnh công nghệ và nhân lực, theo ông Michael Piro, vốn cũng là một nút thắt quan trọng. Việt Nam cần phát triển chiều sâu của thị trường vốn trong nước, đa dạng hóa nguồn tài chính và tạo điều kiện để vốn tư nhân, vốn tổ chức cũng như vốn quốc tế tham gia nhiều hơn vào các lĩnh vực sản xuất, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Theo ông, nếu muốn thu hút thêm các nhà đầu tư tổ chức lớn từ Mỹ và châu Âu, Việt Nam cần tiếp tục cải thiện tính minh bạch, chính sách thuế, khả năng chuyển vốn và mức độ thuận lợi của môi trường kinh doanh.
Số hóa, khai thác kho tư liệu bằng AI, bảo đảm an ninh mạng và xác thực thông tin là những yêu cầu đặt ra đối với báo chí trong quá trình chuyển đổi số, đặc biệt với nguồn tư liệu nghiệp vụ được tích lũy qua nhiều năm của báo chí công an nhân dân…
Khi hạ tầng năng lượng ngày càng phụ thuộc vào dữ liệu và công nghệ điều khiển, bảo vệ hệ thống công nghệ thông tin, công nghệ vận hành công nghiệp và nâng cao năng lực ứng phó sự cố trở thành yêu cầu quan trọng đối với an ninh năng lượng quốc gia…
Với AI, doanh nghiệp có thể cải thiện năng suất, tối ưu hóa quy trình, gia tăng lợi nhuận và duy trì khả năng cạnh tranh. Tác động này diễn ra ở mọi quy mô, từ các tập đoàn lớn đến doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME). Ngược lại, những doanh nghiệp chậm thích ứng với công nghệ có nguy cơ đánh mất lợi thế và tụt lại phía sau thị trường…
Cloud và AI đang thay đổi nhanh cách ngân hàng xây dựng sản phẩm, vận hành hệ thống và khai thác dữ liệu. Nhưng khi hạ tầng trở nên phân tán hơn, kết nối nhiều hơn và phụ thuộc vào nhiều bên hơn, bài toán bảo mật cũng thay đổi…
Để hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hiệu quả cần có sự phối hợp của cả một hệ sinh thái dịch vụ, từ kết nối thị trường, xây dựng thương hiệu, kể câu chuyện sản phẩm đến phát triển dữ liệu và chuyển đổi số…
Trong bối cảnh công nghệ thay đổi nhanh, thị trường nhiều biến động, cần kết nối những xu hướng đang định hình kinh tế toàn cầu với các quyết định thực tế của doanh nghiệp và nhà hoạch định chính sách...
Từ một khóa học chuyển đổi số, Vàng Thị Mơi bắt đầu xây dựng dịch vụ thiết kế và hỗ trợ kinh doanh trực tuyến cho các hộ kinh doanh. Với Mơi, ứng dụng công nghệ số không chỉ là sử dụng AI hay mạng xã hội, mà còn giúp người dân giải quyết những nhu cầu thiết thực trong cuộc sống…
Trí tuệ nhân tạo đang tái định hình môi trường kinh doanh toàn cầu. Thách thức lớn nhất của doanh nghiệp không đơn thuần là ứng dụng AI, mà là nhận diện đúng cơ hội, tái định hình phương thức quản trị, đổi mới mô hình vận hành và chuyển hóa tiềm năng công nghệ thành giá trị kinh doanh thực sự…
Ở mức cao nhất, hệ thống có thể tự động giải quyết thủ tục hành chính khi dữ liệu đủ để xác định người dân đáp ứng các điều kiện theo quy định. Khi đó, hệ thống chủ động xử lý và thông báo kết quả, người dân không phải tự khởi tạo và thực hiện từng bước thủ tục như trước…
Một trong những điểm nghẽn trong đào tạo nhân lực ngành bán dẫn là các trường đại học cùng phát triển nhiều lĩnh vực đào tạo, từ chương trình học đến hạ tầng, phòng thí nghiệm và đội ngũ giảng viên…