Chủ tịch ViSecurity Ngô Tuấn Anh: Phát triển công nghiệp an ninh mạng nội địa là điều rất quan trọng và cần thiết
Bảo Bình
27/10/2025
Hiện nay hầu hết các sản phẩm an ninh mạng đang được sử dụng tại Việt Nam đều là sản phẩm của nước ngoài...
Tại Tọa đàm “Bảo vệ công dân và củng cố niềm tin số trong nỗ lực hiện thực hóa Công ước Hà Nội” diễn ra trong khuôn khổ Lễ ký kết và Tọa đàm cấp cao Công ước Liên Hợp Quốc về Chống Tội phạm Mạng (Công ước Hà Nội), Tạp chí Kinh tế Việt Nam / VnEconomy đã có cuộc phỏng vấn bên lề với ông Ngô Tuấn Anh, Chủ tịch mạng lưới An ninh mạng ViSecurity, CEO kiêm nhà sáng lập Công ty an ninh mạng SCS.
Công ước Hà Nội là một sự kiện hết sức quan trọng và có ý nghĩa của Việt Nam. Khi sự kiện trọng đại này kết thúc, chúng ta vẫn còn rất nhiều việc phải làm, đặc biệt là với các doanh nghiệp công nghệ của Việt Nam. Theo ông, các công ty công nghệ Việt Nam cần chủ động như thế nào để làm chủ sản phẩm, cũng như xuất khẩu các sản phẩm an ninh mạng mang thương hiệu "Make in Vietnam"?
Trong công tác bảo vệ an toàn trên không gian mạng, rõ ràng bên cạnh ý thức, các giải pháp công nghệ, giải pháp an ninh mạng thực sự là những điều cần thiết. Tuy nhiên, hiện nay hầu hết các sản phẩm an ninh mạng đang được sử dụng tại Việt Nam đều là sản phẩm của nước ngoài.
"Trong công tác bảo vệ an toàn trên không gian mạng, bên cạnh ý thức, các giải pháp công nghệ, giải pháp an ninh mạng thực sự rất cần thiết".
Giống như trong lĩnh vực quốc phòng, tôi cho rằng chúng ta không thể chủ động được vấn đề an ninh mạng nếu vẫn tiếp tục sử dụng sản phẩm nước ngoài. Chính vì vậy, việc phát triển công nghiệp an ninh mạng nội địa là một điều rất quan trọng và cần thiết.
Với vai trò Chủ tịch mạng lưới An ninh mạng ViSecurity cũng như một doanh nghiệp về an ninh mạng, hiện nay chúng tôi đang hợp tác xây dựng hệ sinh thái sản phẩm an ninh mạng "Make in Vietnam". Như chúng ta đã biết, các doanh nghiệp an ninh mạng tại Việt Nam đều rất tiềm năng, tuy nhiên hầu hết các sản phẩm chưa được sử dụng rộng rãi. Một trong những lý do chính là chưa tạo ra được sức mạnh cộng hưởng.
Vì thế, chúng tôi đã lên kế hoạch kết nối các doanh nghiệp an ninh mạng Việt Nam, cùng nhau hỗ trợ để triển khai, xây dựng hệ sinh thái các sản phẩm an ninh mạng. Đến thời điểm hiện tại, chúng tôi đã cơ bản hình thành được các sản phẩm trong hệ sinh thái đó.
Hy vọng trong thời gian tới, với sự kết hợp này, chúng ta sẽ sớm thấy được những bộ sản phẩm an ninh mạng hoàn chỉnh tại Việt Nam. Bước đầu tiên là chiếm lĩnh thị trường trong nước, và trong tương lai không xa, những sản phẩm tốt của Việt Nam có thể vươn ra thị trường thế giới.
Ông đánh giá thế nào về cơ hội phát triển của các doanh nghiệp an ninh mạng trong bối cảnh hiện nay?
Tôi nghĩ rằng đây là một thời điểm rất tốt cho tất cả các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm an ninh mạng. Bên cạnh việc chuyển đổi số, yêu cầu về đảm bảo an ninh mạng là điều bắt buộc. Vừa qua, chính phủ đã có những chỉ đạo rất rõ ràng và quyết liệt, ví dụ như yêu cầu tối thiểu dành cho an ninh mạng trong các dự án công nghệ thông tin phải chiếm ít nhất 15% tổng ngân sách của dự án. Điều này khác hẳn so với trước kia.
Bên cạnh đó, các yêu cầu liên quan đến tuân thủ, triển khai các giải pháp cũng đã được đặt ra. Nếu xảy ra tấn công mạng, trách nhiệm của người đứng đầu phải được xem xét. Tôi thấy đây là những biện pháp rất quyết liệt để triển khai các giải pháp đảm bảo an ninh mạng tại Việt Nam. Và đây, tôi nghĩ, là một cơ hội tốt cho các doanh nghiệp an ninh mạng có sản phẩm, dịch vụ tốt để có thể phát triển.
Như ông vừa đề cập, hiện nay các sản phẩm nước ngoài vẫn đang chiếm ưu thế trên thị trường. Vậy, các sản phẩm Việt Nam đang gặp phải những trở ngại nào và làm thế nào để vượt qua những trở ngại ấy?
Thực ra, người Việt chúng ta rất có năng lực về mặt chuyên môn. Tuy nhiên, để biến chuyên môn đó thành những sản phẩm tốt, bên cạnh việc sáng tạo, chúng ta còn phải triển khai tốt khâu thương mại.
Khi thương mại tốt, chúng ta mới có nguồn lực để tái đầu tư, giúp sản phẩm ngày càng hoàn thiện hơn. Trên thế giới, các sản phẩm tốt thường cần khoảng 5 đến 10 năm để được thị trường chấp nhận.
Các doanh nghiệp Việt đang gặp khó khăn về nguồn lực để phát triển sản phẩm, đồng thời các khách hàng tiềm năng vẫn còn tâm lý "sính ngoại"
Vấn đề hiện nay là các doanh nghiệp Việt đang gặp khó khăn về nguồn lực để phát triển sản phẩm, đồng thời các khách hàng tiềm năng vẫn còn tâm lý "sính ngoại", tức là ưu tiên sử dụng sản phẩm nước ngoài. Thậm chí, một số chính sách ở đâu đó lại có hiện tượng "bảo hộ ngược", nghĩa là ưu tiên cho sản phẩm nước ngoài hơn sản phẩm trong nước.
Điều này hoàn toàn trái ngược với các nước xung quanh như Trung Quốc hay Hàn Quốc – nơi rất ủng hộ sản phẩm nội địa, tạo ra động lực và sự hỗ trợ để các doanh nghiệp non trẻ, sản phẩm mới có cơ hội phát triển. Khi doanh nghiệp có bước phát triển đầu tiên, lúc đó mới có bước đệm để phát triển và chiếm lĩnh thị trường trong nước, từ đó mới có thể mong muốn tham gia thị trường nước ngoài.
Đứng ở góc độ người tiêu dùng, người dùng thường sẽ lựa chọn những sản phẩm mà họ đánh giá là có chất lượng tốt nhất. Vậy, theo ông, sản phẩm an ninh mạng Việt Nam có những ưu thế nào để có thể thuyết phục người tiêu dùng?
Tôi nghĩ việc so sánh sẽ có nhiều khía cạnh. Chẳng hạn như khả năng tuân thủ các quy định pháp luật tại bản địa, rõ ràng chúng ta có ưu thế tốt hơn. Hoặc so sánh về các tính năng liên quan đến dịch vụ hỗ trợ, triển khai, hay phối hợp xử lý sự cố, thì chắc chắn các doanh nghiệp bản địa Việt Nam sẽ tốt hơn. Thực tế, kể cả về mặt tính năng, có rất nhiều sản phẩm nội địa của chúng ta có những tính năng, kỹ thuật thậm chí nổi trội hơn so với sản phẩm nước ngoài.
Tuy nhiên, như tôi đã nói, một sản phẩm muốn phát triển và trưởng thành thì cần có thời gian, nguồn lực và đặc biệt là phải được triển khai với khách hàng. Đây là điều chúng tôi đang cố gắng thúc đẩy, làm sao cho sản phẩm Việt Nam có sự trưởng thành hơn trong việc triển khai và đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng.
Ông nói sản phẩm nước ngoài đã có nền tảng 5-10 năm. Nhưng chắc chắn các sản phẩm Việt Nam không thể cũng chờ “nền tảng 5-10 năm” mới bắt đầu chiếm lĩnh thị trường. Trong bối cảnh hiện tại khi công nghệ phát triển và nhận thức của doanh nghiệp, người dùng ngày càng cao, theo ông, trong khoảng bao lâu nữa thì sản phẩm an ninh mạng Việt Nam có thể chiếm được niềm tin của người tiêu dùng?
Nếu chúng ta đi theo cách thức như các nước khác, thì rõ ràng sau 10 năm nữa, khi chúng ta đi được 10 năm thì các nước cũng đi thêm được 10 năm, và chúng ta sẽ không bao giờ kịp. Vì thế, chúng ta phải có cách thức triển khai theo cách của Việt Nam.
Người Việt chúng ta rất có năng lực về mặt chuyên môn. Tuy nhiên, để biến chuyên môn đó thành những sản phẩm tốt, bên cạnh việc sáng tạo, chúng ta còn phải triển khai tốt khâu thương mại.
Chẳng hạn, chúng ta sẽ đẩy mạnh hơn nữa việc phân công trong các đơn vị. Thay vì một đơn vị phân tán nguồn lực để làm nhiều sản phẩm dịch vụ, chúng ta nên tập trung: một doanh nghiệp chỉ làm một, hai sản phẩm dịch vụ với thế mạnh của mình. Bên cạnh đó, về mặt chính sách, chính phủ đang thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo.
Tôi cũng rất mong muốn Chính phủ sẽ có những quy định cụ thể hơn, rõ ràng hơn về việc khuyến khích sử dụng sản phẩm, dịch vụ của các doanh nghiệp cung cấp giải pháp an ninh mạng trong nước. Điều đó sẽ tạo ra nguồn lực phát triển rất mạnh mẽ cho những doanh nghiệp như chúng tôi.
Ông có những đề xuất gì về các biện pháp nhằm hỗ trợ các sản phẩm trong nước?
Điều đầu tiên tôi nghĩ đến là sự chủ động của chính các doanh nghiệp. Có nghĩa là chúng tôi sẽ cùng nhau hợp tác, hỗ trợ để xây dựng một hệ sinh thái sản phẩm an ninh mạng Việt Nam toàn diện, bằng cách phân công công việc cụ thể dựa trên thế mạnh của từng đơn vị, để tập trung phát triển những sản phẩm tốt nhất.
Thứ hai, chúng tôi cũng sẽ cùng nhau tham vấn về mặt chính sách, dựa trên kinh nghiệm thực tế để chia sẻ, góp ý trong việc xây dựng các quy định, chính sách phù hợp với thông lệ quốc tế, đồng thời có những hỗ trợ trực tiếp hơn nữa cho doanh nghiệp tại Việt Nam.
Theo ông, sự kiện ký kết Công ước Hà Nội sẽ tạo ra cú hích như thế nào với doanh nghiệp, cũng như nhận thức và chính sách của Việt Nam về các sản phẩm an ninh mạng trong nước?
Tôi nghĩ điều quan trọng nhất chính là sự thay đổi nhận thức của toàn xã hội. Có nghĩa là, với một vấn đề trước kia có thể chỉ một vài người biết, một vài người quan tâm. Nhưng bây giờ, tấn công mạng, tội phạm mạng, đảm bảo an toàn an ninh mạng đã là vấn đề quốc tế, và vấn đề quốc tế ấy lại được tổ chức thảo luận tại Việt Nam.
Điều này có nghĩa toàn bộ hệ thống chính trị, các nhà lãnh đạo, các chủ doanh nghiệp và tất cả mọi người đều ý thức đây là một vấn đề cốt lõi và chúng ta cần phải hành động. Tôi nghĩ đây là điều quan trọng nhất mà Lễ ký Công ước Hà Nội đã đạt được.
Thí điểm thị trường tài sản mã hóa mới chỉ là bước khởi đầu. Để tài sản này thực sự tham gia thị trường vốn, Việt Nam cần đồng thời hoàn thiện pháp lý, quy chuẩn về RWA, hạ tầng dữ liệu tin cậy và cơ chế bảo vệ nhà đầu tư...
Công nghệ đang mở rộng nhanh thị trường chăm sóc sức khỏe và sắc đẹp, nhưng bài toán đặt ra không chỉ là đưa thêm công nghệ vào sản phẩm, mà còn phải bảo đảm chất lượng, an toàn, hiệu quả và tuân thủ…
Việt Nam đã bắt đầu hình thành những ứng dụng UAV thực tế trong nông nghiệp, y tế, đô thị, điện lực, viễn thông, song hệ sinh thái vẫn còn nhỏ và phần lớn đang thử nghiệm…
Công ước 193 có giá trị tham khảo lớn đối với quá trình hoàn thiện chính sách tại Việt Nam, nhất là với tài xế công nghệ, người giao hàng, freelancer và những người làm việc qua ứng dụng…
Đối với doanh nghiệp công nghệ bắt nguồn từ nghiên cứu, khả năng tiếp cận khách hàng, doanh nghiệp, đối tác công nghiệp và thị trường quốc tế mới quyết định công nghệ có thể phát triển thành doanh nghiệp quy mô lớn hay không…
Phụ nữ có thể chiếm tỷ lệ đáng kể ở đầu vào của các ngành STEM, nhưng sự hiện diện này không phải lúc nào cũng được duy trì khi bước lên những nấc cao hơn của thị trường công nghệ…
Khi sự tiện ích và thấu cảm của trí tuệ nhân tạo (AI) vô tình biến công nghệ này thành một "tri kỷ ảo", các doanh nghiệp Việt cũng đồng thời phải đối mặt với những góc khuất rủi ro bảo mật và những bài toán về an ninh mạng chưa có tiền lệ.
Các doanh nghiệp tạo tác động xã hội (SIB) tại Việt Nam đang cho thấy tác động tích cực về xã hội và môi trường có thể tạo ra giá trị kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh và mở ra những cơ hội thị trường mới…
The WISE Talk số 21 với chủ đề "An ninh mạng trong kỷ nguyên AI" được phát sóng trên trang chủ và Fanpage của VnEconomy vào 14:00, ngày 20/08/2026.
Theo Báo cáo của ILO, khoảng 11,5 triệu lao động tại Việt Nam, tương đương 1/5 lực lượng lao động, đang làm những công việc có khả năng chịu tác động của AI tạo sinh…