Thiếu tiền, thiếu người, thiếu chiến lược: "Bộ ba" rào cản khiến SME Việt chưa tận dụng hết AI
Bảo Bình
22/11/2025
93% doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam đã ứng dụng AI, dẫn đầu Đông Nam Á. Tuy nhiên, mức độ ứng dụng AI tăng nhanh, doanh nghiệp vẫn đối mặt nhiều rào cản lớn...
Việc ứng dụng AI từng được xem là cuộc chơi đòi hỏi ngân sách lớn và đội ngũ kỹ thuật chuyên sâu. Nhưng với sự xuất hiện của các nền tảng low-code/no-code và dịch vụ AI dạng API, khoảng cách này đã thu hẹp đáng kể.
Theo báo cáo năm 2024 của Gartner, 60% doanh nghiệp vừa và nhỏ toàn cầu đang sử dụng AI thông qua các nền tảng SaaS, cho thấy công nghệ này đã trở nên đại chúng hơn bao giờ hết.
Việt Nam đang chuyển từ chuyển đổi số sang chuyển đổi thông minh, tận dụng dữ liệu lớn và AI để ra quyết định, cá nhân hóa sản phẩm và dịch vụ theo nhu cầu từng nhóm khách hàng.
AI đã trở thành động lực then chốt thúc đẩy cả chuyển đổi xanh và chuyển đổi số của doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam. Nhiều doanh nghiệp thực phẩm và bán lẻ đã dùng AI để tự động hóa chăm sóc khách hàng, phân tích đơn hàng và tạo báo cáo theo thời gian thực.
VIỆT NAM DẪN ĐẦU ĐÔNG NAM Á VỚI 93% DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ ĐÃ ỨNG DỤNG AI
Mức độ ứng dụng AI tại doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam đang tăng tốc mạnh mẽ. Theo báo cáo mới nhất của Deloitte, Việt Nam hiện dẫn đầu Đông Nam Á với 93% doanh nghiệp vừa và nhỏ đã ứng dụng AI vào hoạt động vận hành.
Theo đó, các doanh nghiệp Việt sử dụng AI nhiều nhất trong các hoạt động liên quan đến khách hàng. Cụ thể, 66% doanh nghiệp dùng AI để giao tiếp khách hàng, 63% để tiếp cận khách hàng mới và 56% để hiểu rõ nhu cầu của từng nhóm tiêu dùng.
Bên cạnh đó, 75% doanh nghiệp vừa và nhỏ đã triển khai ít nhất một công cụ số có tích hợp AI. Gần như tất cả doanh nghiệp khảo sát đều ghi nhận hiệu quả rõ rệt: 92% tăng năng suất, 91% cải thiện tương tác khách hàng và 89% giảm chi phí vận hành nhờ các công cụ AI.
Những ứng dụng phổ biến nhất của AI trải rộng từ tự động hóa quy trình, tối ưu vận hành, quản lý kho, tài chính – nhân sự; đến chatbot, trợ lý ảo, phân tích dữ liệu, dự báo nhu cầu thị trường và tối ưu chuỗi cung ứng. Với chuyển đổi xanh, nhiều doanh nghiệp đã dùng AI để quản lý năng lượng, tối ưu hóa tài nguyên và giảm phát thải.
Nghiên cứu cho thấy AI đã giúp doanh nghiệp số hóa quy trình, tự động hóa các tác vụ lặp lại và quản lý dữ liệu tốt hơn, năng suất ở nhiều phòng ban từ đã tăng từ 20% đến 100%. Đồng thời, AI hỗ trợ giảm lãng phí tài nguyên, tối ưu hóa sử dụng năng lượng và kiểm soát phát thải – những yếu tố quan trọng để đáp ứng các tiêu chuẩn phát triển bền vững.
ĐỐI MẶT NHIỀU RÀO CẢN LỚN, TỪ TÀI CHÍNH ĐẾN NHÂN LỰC VÀ CHIẾN LƯỢC
Không chỉ giúp tiết kiệm chi phí, AI còn nâng cao chất lượng ra quyết định thông qua phân tích dữ liệu theo thời gian thực. Các giải pháp như chatbot, phân tích hành vi khách hàng hay cá nhân hóa marketing giúp doanh nghiệp xây dựng hệ sinh thái số toàn diện, cải thiện trải nghiệm khách hàng và mở rộng khả năng tiếp cận các thị trường yêu cầu tiêu chuẩn xanh.
Theo Báo cáo Thường niên Chuyển đổi kép 2025: “Trí tuệ nhân tạo và tác động đến chuyển đổi kép cho doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam” do Tổ chức Hợp tác Quốc tế Đức GIZ phối hợp Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể, Bộ Tài chính, Việt Nam, phát hành, trong bối cảnh Việt Nam thúc đẩy chuyển đổi số song song với tăng trưởng xanh, AI đang trở thành công cụ chiến lược giúp doanh nghiệp vừa và nhỏ nâng cao hiệu quả vận hành, tối ưu tài nguyên và đáp ứng các tiêu chuẩn bền vững.
Để tiết kiệm thời gian và chi phí, doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể không cần tự phát triển AI mà nên tham gia vào các hệ sinh thái đổi mới.
Đáng chú ý, mức độ ứng dụng AI tăng nhanh song doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam vẫn đối mặt nhiều rào cản lớn. Trong đó, tài chính là trở ngại số một. Dẫn khảo sát của Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh (UEH), Báo cáo cho biết 86% doanh nghiệp cho rằng chi phí đầu tư là rào cản chính. Một khảo sát khác ghi nhận 44% doanh nghiệp xem chi phí kinh doanh tăng cao là thách thức lớn nhất khi triển khai công nghệ mới.
Bên cạnh đó, hạn chế về nhân lực công nghệ, dữ liệu thiếu sẵn sàng và hạ tầng công nghệ thông tin cũ kỹ khiến việc triển khai AI mất nhiều thời gian và tiềm ẩn rủi ro. Không ít doanh nghiệp vẫn ứng dụng AI theo phong trào, chưa xác định rõ nhu cầu thực tế và thiếu một chiến lược dài hạn để tối ưu hóa đầu tư.
Một rào cản khác là khả năng tiếp cận các giải pháp AI phù hợp từng ngành nghề còn thấp. doanh nghiệp vừa và nhỏ thường thiếu đội ngũ tư vấn chuyên môn, dẫn tới khó lựa chọn công nghệ phù hợp hoặc đánh giá đúng hiệu quả của các mô hình AI. Thiếu tiền, thiếu người, thiếu định hướng đang kìm hãm tốc độ chuyển đổi số và chuyển đổi xanh của khối doanh nghiệp vừa và nhỏ.
SME KHÔNG CẦN TỰ PHÁT TRIỂN AI MÀ NÊN THAM GIA VÀO CÁC HỆ SINH THÁI ĐỔI MỚI
Báo cáo Thường niên Chuyển đổi kép 2025 cũng đã đưa ra những giải pháp nhằm hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam ứng dụng AI, tháo gỡ các rào cản điển hình. Đặc biệt, Báo cáo nhấn mạnh tận dụng đổi mới sáng tạo mở để tiết kiệm nguồn lực và tăng tốc quá trình triển khai AI trong chuyển đổi kép. Và để tiết kiệm thời gian và chi phí, doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể không cần tự phát triển AI mà nên tham gia vào các hệ sinh thái đổi mới.
Thứ nhất, hợp tác với startup, viện nghiên cứu và chuyên gia công nghệ giúp doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận nhanh các giải pháp AI có sẵn — từ tối ưu lịch sản xuất, kiểm soát chất lượng bằng thị giác máy tính đến phân tích dữ liệu ESG hay triển khai chatbot chăm sóc khách hàng.
Cách làm này giảm đáng kể chi phí phát triển từ đầu, đồng thời cho phép doanh nghiệp tùy chỉnh công nghệ theo nhu cầu thực tế và rút ngắn chu kỳ đổi mới.
Thứ hai, tham gia các nền tảng đổi mới sáng tạo mở, vườn ươm và chương trình tăng tốc giúp doanh nghiệp thử nghiệm nhanh AI trong tự động hóa sản xuất, tối ưu logistics, marketing số hay giám sát phát thải.
Việc thử nghiệm trong mô hình “sandbox” với chi phí thấp và có hỗ trợ chuyên môn giúp doanh nghiệp vừa và nhỏ kiểm chứng hiệu quả công nghệ trước khi đầu tư lớn.
Thứ ba, tổ chức các cuộc thi ý tưởng và hackathon nội bộ hoặc liên doanh nghiệp là cách khai thác tri thức từ chính nhân viên, đối tác và khách hàng. Các sáng kiến thu được có thể áp dụng ngay vào dự báo tồn kho, phân khúc khách hàng, quản lý rủi ro môi trường hay cá nhân hóa trải nghiệm. Đồng thời, mô hình này nuôi dưỡng văn hóa đổi mới và gắn kết đội ngũ.
Thứ tư, chia sẻ dữ liệu và nguồn lực trong các liên minh ngành mở ra cơ hội xây dựng nền tảng AI dùng chung, như hệ thống giám sát môi trường, truy xuất nguồn gốc xanh hay dự báo nhu cầu theo khu vực. Đây là cách giúp giảm chi phí đầu tư riêng lẻ và tạo ra hạ tầng số ngành, yếu tố quan trọng để doanh nghiệp bước vào chuỗi giá trị xanh - số toàn cầu.
Thứ năm, hợp tác với các tập đoàn công nghệ lớn cho phép doanh nghiệp vừa và nhỏ triển khai giải pháp AI chuẩn hóa và đáng tin cậy mà không cần tự xây dựng.
“Việc chủ động kết nối với các tổ chức quốc tế, đơn vị chuyển giao công nghệ và quỹ hỗ trợ đổi mới giúp doanh nghiệp nhanh chóng tiếp cận các mô hình AI đã được chứng minh hiệu quả ở nhiều quốc gia”, Báo cáo nhấn mạnh.
Theo nghiên cứu của BCG, chỉ 26% doanh nghiệp toàn cầu đã vượt qua giai đoạn thử nghiệm để tạo ra giá trị thực từ AI, nhưng nhóm này ghi nhận tăng trưởng doanh thu cao hơn 50% và lợi nhuận trên vốn đầu tư cao hơn 40% trong ba năm qua. Trong khi đó, dự báo của BCG và Trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia cho thấy AI có thể đóng góp 120–130 tỷ USD vào kinh tế Việt Nam vào năm 2040, trong đó 25–30 tỷ USD đến từ sản xuất.
Từ khóa:
Dòng sự kiện:
Trí tuệ nhân tạo -AIĐối với những công nghệ mới và đặc biệt như UAV, hạ tầng thử nghiệm có vai trò rất quan trọng. Trong khi đó, các doanh nghiệp mới, đặc biệt là startup, chưa có đủ nguồn lực để tự đầu tư một hệ thống hạ tầng thử nghiệm riêng…
Một trong những yếu tố then chốt phát triển hệ sinh thái bán dẫn là tạo ra cơ chế để các ý tưởng, thiết kế và công nghệ có thể đi qua các bước kiểm chứng trước khi được đưa vào sản xuất hoặc thương mại hóa…
Nếu Việt Nam hình thành được một số cụm AI có khả năng quy tụ nhà nghiên cứu, startup, doanh nghiệp lớn và các trung tâm R&D quốc tế, nhân tài có thể trở thành một trong những lợi thế cạnh tranh mới của nền kinh tế…
Thí điểm thị trường tài sản mã hóa mới chỉ là bước khởi đầu. Để tài sản này thực sự tham gia thị trường vốn, Việt Nam cần đồng thời hoàn thiện pháp lý, quy chuẩn về RWA, hạ tầng dữ liệu tin cậy và cơ chế bảo vệ nhà đầu tư...
Công nghệ đang mở rộng nhanh thị trường chăm sóc sức khỏe và sắc đẹp, nhưng bài toán đặt ra không chỉ là đưa thêm công nghệ vào sản phẩm, mà còn phải bảo đảm chất lượng, an toàn, hiệu quả và tuân thủ…
Việt Nam đã bắt đầu hình thành những ứng dụng UAV thực tế trong nông nghiệp, y tế, đô thị, điện lực, viễn thông, song hệ sinh thái vẫn còn nhỏ và phần lớn đang thử nghiệm…
Công ước 193 có giá trị tham khảo lớn đối với quá trình hoàn thiện chính sách tại Việt Nam, nhất là với tài xế công nghệ, người giao hàng, freelancer và những người làm việc qua ứng dụng…
Đối với doanh nghiệp công nghệ bắt nguồn từ nghiên cứu, khả năng tiếp cận khách hàng, doanh nghiệp, đối tác công nghiệp và thị trường quốc tế mới quyết định công nghệ có thể phát triển thành doanh nghiệp quy mô lớn hay không…
Phụ nữ có thể chiếm tỷ lệ đáng kể ở đầu vào của các ngành STEM, nhưng sự hiện diện này không phải lúc nào cũng được duy trì khi bước lên những nấc cao hơn của thị trường công nghệ…
Khi sự tiện ích và thấu cảm của trí tuệ nhân tạo (AI) vô tình biến công nghệ này thành một "tri kỷ ảo", các doanh nghiệp Việt cũng đồng thời phải đối mặt với những góc khuất rủi ro bảo mật và những bài toán về an ninh mạng chưa có tiền lệ.