Nữ giới chiếm gần một nửa lực lượng khoa học công nghệ Việt Nam
Bảo Bình
12/08/2026
Theo đại diện UNDP, 46% không chỉ là một con số về cơ cấu lao động. Đó là một nguồn lực kinh tế mà Việt Nam có thể khai thác tốt hơn để phục vụ mục tiêu tăng trưởng dựa trên năng suất và đổi mới sáng tạo…
Phụ nữ hiện chiếm khoảng 46% lực lượng nghiên cứu khoa học công nghệ và phát triển ở Việt Nam, một tỷ lệ cao hàng đầu trong khu vực châu Á và cao hơn nhiều so với mức trung bình thế giới hiện nay là 30%. Tuy nhiên, sự hiện diện đông đảo này chưa chuyển hóa tương xứng thành các dự án do phụ nữ dẫn dắt, tài sản trí tuệ hay các sản phẩm công nghệ được đưa ra thị trường.
NGUỒN LỰC LỚN NHƯNG CHƯA ĐI HẾT CHUỖI GIÁ TRỊ
Tại Hội thảo kết nối công nghệ Women in Tech diễn ra ngày 11/8 ở Sàn Giao dịch Khoa học và Công nghệ, Hà Nội, bà Francesca Nardini, Phó Trưởng đại diện thường trú UNDP tại Việt Nam, cho rằng Việt Nam đang đứng trước yêu cầu xây dựng một mô hình tăng trưởng mới, dựa nhiều hơn vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng suất.
Theo bà, Việt Nam đã có nền tảng đáng kể về nguồn nhân lực khoa học công nghệ, hệ thống viện nghiên cứu và một khu vực kinh tế tư nhân năng động. Tuy nhiên, đầu tư cho R&D vẫn chỉ khoảng 0,4% GDP, thấp hơn nhiều so với các nền kinh tế dẫn đầu về đổi mới sáng tạo.
Đặc biệt, bà Francesca Nardini cho rằng vấn đề không chỉ là tạo ra thêm tri thức và công nghệ mà còn phải bảo đảm những kết quả nghiên cứu được chuyển hóa thành giá trị kinh tế. Đại diện UNDP cũng nhấn mạnh yêu cầu cải thiện toàn bộ chuỗi đổi mới sáng tạo, từ tài trợ R&D đến các cơ chế đưa kết quả nghiên cứu từ phòng thí nghiệm ra thị trường.
Và đây cũng chính là điểm nghẽn đối với lực lượng khoa học nữ. Theo số liệu được Liên Hợp Quốc tại Việt Nam công bố, phụ nữ chiếm 46% lực lượng R&D của Việt Nam nhưng chỉ chiếm 25,5% số người chủ trì các nhiệm vụ khoa học và công nghệ. Tỷ lệ phụ nữ được cấp bằng sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp và bảo hộ giống cây trồng chỉ dao động từ 13-20%.
Như vậy, khoảng cách không nằm ở việc phụ nữ có tham gia nghiên cứu hay không, mà nằm ở vị trí của họ trong chuỗi tạo ra giá trị từ nghiên cứu. Theo bà Francesca Nardini, việc tạo thêm cơ hội để các nhà khoa học nữ chủ trì nghiên cứu, sở hữu quyền sở hữu trí tuệ, kết nối với doanh nghiệp và thương mại hóa sáng kiến không chỉ là vấn đề bình đẳng giới. Đây còn là yếu tố giúp nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo và sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam.
“46% không chỉ là một con số về cơ cấu lao động. Đó là một nguồn lực kinh tế mà Việt Nam có thể khai thác tốt hơn để phục vụ mục tiêu tăng trưởng dựa trên năng suất và đổi mới sáng tạo”, bà Francesca Nardini nói.
MÔI TRƯỜNG KHOA HỌC ĐA DẠNG TƯ DUY SẼ MỞ RỘNG KHÔNG GIAN ĐỔI MỚI SÁNG TẠO
Theo Tiến sĩ Trần Văn Tùng, Chủ tịch Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, các nhà khoa học nữ đang sở hữu nhiều công trình có giá trị ứng dụng trong những lĩnh vực như y dược, công nghệ sinh học, môi trường, nông nghiệp và thực phẩm.
Tuy nhiên, ông cho rằng khoảng cách giữa thành tựu trong phòng thí nghiệm và nhu cầu của thị trường vẫn là thách thức lớn. “Nhà khoa học cần thị trường để hiện thực hóa ý tưởng; ngược lại, doanh nghiệp cần công nghệ nội địa chất lượng để nâng cao năng lực cạnh tranh”, Tiến sĩ Trần Văn Tùng nói. Điều này cho thấy bài toán đối với các nhà khoa học nữ không nên dừng lại ở việc tăng số lượng người tham gia nghiên cứu, mà quan trọng hơn là tạo điều kiện để họ có thể đi hết hành trình từ nghiên cứu đến thương mại hóa.
Thực tế, các nhà khoa học nữ vẫn gặp nhiều trở ngại trong tiếp cận vốn đầu tư, chương trình tăng tốc khởi nghiệp, dịch vụ tư vấn thương mại hóa, hợp tác với doanh nghiệp và các mạng lưới đổi mới sáng tạo. Đây chính là những mắt xích quyết định một kết quả nghiên cứu có thể trở thành sản phẩm hay tiếp tục dừng lại trong phòng thí nghiệm.
PGS.TS Huỳnh Thành Đạt, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, nguyên Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, cho rằng trong quá trình phát triển khoa học hiện đại, những thành tựu có giá trị ngày càng được hình thành từ sự giao thoa của nhiều lĩnh vực, cách tiếp cận và góc nhìn khác nhau.
Theo ông, những lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, y học chính xác, vật liệu mới hay khoa học dữ liệu đều cho thấy sáng tạo không còn là kết quả của một tư duy đơn tuyến mà là sản phẩm của sự hội tụ tri thức.
Vì vậy, sự đa dạng của đội ngũ nghiên cứu ngày càng trở thành một yếu tố quan trọng của năng lực sáng tạo. Những môi trường học thuật cởi mở, khuyến khích sự tham gia của nhiều thế hệ, chuyên ngành và góc nhìn khác nhau có khả năng tạo ra sức sáng tạo bền vững hơn.
PGS.TS Huỳnh Thành Đạt dẫn ví dụ về các nhóm nghiên cứu mạnh tại Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Cần Thơ và các đại học lớn. Theo ông, sự tham gia tích cực của các nhà khoa học nữ không chỉ làm phong phú cách tiếp cận nghiên cứu mà còn góp phần xây dựng văn hóa học thuật dựa trên chia sẻ, trách nhiệm và hợp tác.
“Khi môi trường khoa học thực sự khuyến khích sự đa dạng hóa về tư duy, về kinh nghiệm và về cách tiếp cận, thì những ý tưởng sáng tạo sẽ có nhiều cơ hội được hình thành và phát triển hơn”, PGS.TS Huỳnh Thành Đạt nhận định.
Để hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hiệu quả cần có sự phối hợp của cả một hệ sinh thái dịch vụ, từ kết nối thị trường, xây dựng thương hiệu, kể câu chuyện sản phẩm đến phát triển dữ liệu và chuyển đổi số…
Trong bối cảnh công nghệ thay đổi nhanh, thị trường nhiều biến động, cần kết nối những xu hướng đang định hình kinh tế toàn cầu với các quyết định thực tế của doanh nghiệp và nhà hoạch định chính sách...
Từ một khóa học chuyển đổi số, Vàng Thị Mơi bắt đầu xây dựng dịch vụ thiết kế và hỗ trợ kinh doanh trực tuyến cho các hộ kinh doanh. Với Mơi, ứng dụng công nghệ số không chỉ là sử dụng AI hay mạng xã hội, mà còn giúp người dân giải quyết những nhu cầu thiết thực trong cuộc sống…
Trí tuệ nhân tạo đang tái định hình môi trường kinh doanh toàn cầu. Thách thức lớn nhất của doanh nghiệp không đơn thuần là ứng dụng AI, mà là nhận diện đúng cơ hội, tái định hình phương thức quản trị, đổi mới mô hình vận hành và chuyển hóa tiềm năng công nghệ thành giá trị kinh doanh thực sự…
Ở mức cao nhất, hệ thống có thể tự động giải quyết thủ tục hành chính khi dữ liệu đủ để xác định người dân đáp ứng các điều kiện theo quy định. Khi đó, hệ thống chủ động xử lý và thông báo kết quả, người dân không phải tự khởi tạo và thực hiện từng bước thủ tục như trước…
Một trong những điểm nghẽn trong đào tạo nhân lực ngành bán dẫn là các trường đại học cùng phát triển nhiều lĩnh vực đào tạo, từ chương trình học đến hạ tầng, phòng thí nghiệm và đội ngũ giảng viên…
Khi công nghệ có thể đảm nhiệm ngày càng nhiều công đoạn với tốc độ nhanh và chi phí thấp hơn, người làm thiết kế đứng trước yêu cầu mới: không chỉ sử dụng thành thạo công cụ mà còn phải có kiến thức nền tảng, tư duy phản biện và khả năng làm chủ quá trình sáng tạo…
Internet, mạng xã hội và AI mở ra nhiều cơ hội cho trẻ em, nhưng cũng kéo theo những rủi ro như lừa đảo, bắt nạt trực tuyến, xâm phạm dữ liệu cá nhân và ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần…
Nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành bán dẫn Việt Nam vẫn đang còn hạn chế, đặc biệt là các kiến trúc sư trưởng, các kỹ sư tham gia vào phần thiết kế kiến trúc (front-end architect)...
Sự kết hợp giữa công nghệ sinh học với trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và điện toán đám mây đang rút ngắn thời gian nghiên cứu, giảm chi phí và mở rộng cơ hội thương mại hóa các sáng chế sinh học…