Chuyển đổi số không thể tách rời bài toán điện lực
Bảo Bình
27/05/2026
Khi triển khai hạ tầng số diện rộng, điện lực phải được xem là một phần không thể tách rời của quá trình khảo sát ban đầu...
Trong làn sóng chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trên cả nước, nhiều địa phương tập trung vào dữ liệu, nền tảng số và trí tuệ nhân tạo (AI) như những động lực tăng trưởng mới.
Tuy nhiên, theo bà Võ Thị Trung Trinh, Giám đốc Trung tâm Chuyển đổi Số TP. Hồ Chí Minh, thực tế triển khai tại TP.HCM cho thấy một vấn đề nền tảng nhưng thường bị xem nhẹ lại có thể quyết định tiến độ và hiệu quả của toàn bộ hệ thống, đó là điện lực.
THÁCH THỨC CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG ĐẦU TƯ HẠ TẦNG SỐ
Chia sẻ tại Hội thảo “Hạ tầng số và năng lượng cho AI”, trong khuôn khổ Diễn đàn Cấp cao Chuyển đổi số Việt Nam - Châu Á 2026 (Vietnam – ASIA DX Summit 2026), bà Võ Thị Trung Trinh cho biết TP.HCM đang triển khai một trong những dự án hạ tầng số quy mô lớn nhất từ trước đến nay nhằm phục vụ mô hình chính quyền địa phương hai cấp, xây dựng hệ thống mạng kết nối thông suốt tới 168 xã, phường và liên thông toàn bộ về trung tâm dữ liệu tập trung của thành phố.
Theo bà Trinh, yêu cầu đặt ra không chỉ là kết nối mạng đơn thuần mà còn phải đảm bảo hệ thống chính quyền số vận hành liên tục, an toàn thông tin được kiểm soát tập trung và đặc biệt không làm gián đoạn dịch vụ công cho người dân trong suốt quá trình chuyển đổi.
Đối với TP.HCM, nhu cầu này càng trở nên cấp thiết bởi địa bàn quản lý rất rộng. Có những khu vực cách trung tâm hơn 100 km, trong khi những địa bàn như huyện Cần Giờ lại gặp nhiều khó khăn về di chuyển và tổ chức điều hành trực tiếp. Trong bối cảnh đó, mô hình chính quyền số và điều hành trực tuyến trở thành yêu cầu tất yếu.
Để giải quyết bài toán quy mô lớn, TP.HCM lựa chọn mô hình triển khai tập trung thay vì để từng đơn vị đầu tư riêng lẻ. Theo đó, toàn bộ hệ thống mạng quản trị, camera, wifi và dữ liệu tại 168 xã, phường sẽ được kết nối về trung tâm dữ liệu của thành phố.
Tại mỗi điểm kết nối, thành phố bố trí các thiết bị nút mạng, hệ thống làm mát và các giải pháp đảm bảo vận hành. Toàn bộ việc giám sát, quản lý điện năng cũng như an toàn thông tin đều được điều hành từ trung tâm.
Theo bà Trinh, mô hình này giúp tối ưu nguồn lực và tránh tình trạng phân mảnh hạ tầng công nghệ.
Hệ thống hạ tầng số mới cũng được định hướng phục vụ các bài toán phân tích và dự báo quy mô lớn trong tương lai. Tại trung tâm dữ liệu và trung tâm giám sát của thành phố, đội ngũ vận hành có thể theo dõi trạng thái thiết bị tại từng điểm mạng theo thời gian thực, từ đó đưa ra các quyết định điều hành nhanh hơn.
KHI BÀI TOÁN ĐIỆN LỰC TRỞ THÀNH “ĐIỂM NGHẼN” CỦA CHUYỂN ĐỔI SỐ
Dù đã khảo sát kỹ về hạ tầng mạng và phương án triển khai, TP.HCM lại gặp phải một khó khăn không ngờ tới trong quá trình thi công: thiếu công suất điện tại một số địa phương.
Theo bà Trinh, đây chính là bài học lớn nhất của dự án.
“Khi lắp đặt xong toàn bộ hệ thống tại một số xã thì chúng tôi mới phát hiện công suất điện không đủ để đáp ứng yêu cầu vận hành. Lúc đó buộc phải nhờ đến các đơn vị điện lực để xử lý”, bà nói.
Điều đáng chú ý là vấn đề này không nằm ở công nghệ mà ở hạ tầng nền tảng phục vụ công nghệ. Thành phố đã khảo sát rất kỹ về mạng lưới kết nối nhưng lại chưa đánh giá đầy đủ hiện trạng điện lực tại từng điểm triển khai. Hệ quả là một số địa điểm phải xử lý lại hạ tầng, làm chậm tiến độ toàn dự án.
Theo bà Trinh, bài học rút ra là khi triển khai hạ tầng số diện rộng, điện lực phải được xem là một phần không thể tách rời của quá trình khảo sát ban đầu.
“Yếu tố điện lực phải được đưa vào danh mục khảo sát ngay từ đầu, không thể bỏ qua”, bà nhấn mạnh.
Sau chín tháng triển khai, TP.HCM hiện bước vào giai đoạn hoàn thiện cuối cùng để chuyển toàn bộ hệ thống từ 168 điểm rời rạc sang mô hình hạ tầng tập trung mới. Song song với đó là quá trình đào tạo nhân lực vận hành và chuẩn hóa quy hoạch địa chỉ mạng nhằm đảm bảo hệ thống có thể hoạt động ổn định trong dài hạn.
Theo lãnh đạo Trung tâm Chuyển đổi Số TP.HCM, một trong những yếu tố quan trọng nhất là phải tính toán kiến trúc phân tầng tập trung ngay từ đầu. Nếu triển khai các hệ thống AI và dữ liệu lớn mà không có nền hạ tầng phù hợp thì hiệu quả sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Trong thời gian tới, TP.HCM dự kiến nghiên cứu phát triển bốn dự án siêu trung tâm dữ liệu với sự tham gia của cả nhà đầu tư trong và ngoài nước. Điều này đồng nghĩa nhu cầu điện năng cho hạ tầng số và AI sẽ tiếp tục tăng mạnh.
Sự phục hồi của thị trường công nghệ toàn cầu cùng làn sóng đầu tư mạnh mẽ vào trí tuệ nhân tạo (AI), trung tâm dữ liệu và bán dẫn đang tạo ra động lực tăng trưởng mới cho ngành điện tử Việt Nam…
Cơ chế, chính sách hỗ trợ đang ngày càng hoàn thiện song không phải doanh nghiệp nào cũng nắm bắt thông tin và sẵn sàng tận dụng cơ hội này…
Chỉ khi được bảo đảm bằng kiến trúc công nghệ, các tiêu chuẩn kỹ thuật và khung thể chế phù hợp, dữ liệu mới có thể lưu chuyển an toàn, tạo giá trị kinh tế và trở thành nền tảng cho sự phát triển của kinh tế số và kinh tế AI...
Bộ Khoa học và Công nghệ đang lấy ý kiến đối với Dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục chip chuyên dụng trong một số ngành, lĩnh vực nhà nước ưu tiên đặt hàng…
Fortinet vừa công bố bổ nhiệm ông Luca Simonelli giữ chức Phó Chủ tịch Cấp cao khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (APAC), phụ trách điều hành hoạt động kinh doanh của hãng trên một trong những thị trường an ninh mạng tăng trưởng nhanh nhất thế giới...
Từ thương mại điện tử, thanh toán số đến trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ đang mở ra cơ hội mới cho hàng triệu hộ kinh doanh và doanh nghiệp siêu nhỏ tại Việt Nam…
Sự phổ biến của AI đang buộc các trường đại học phải thay đổi cách đào tạo và đánh giá người học...
Giá trị của doanh nghiệp sẽ ngày càng được quyết định bởi chất lượng dữ liệu mà doanh nghiệp sở hữu và khả năng biến dữ liệu thành hành động thực tiễn…
Nhiều người tin rằng thị hiếu là thứ có sẵn để định hướng cho các lựa chọn. Tuy nhiên, một nghiên cứu chứng minh điều ngược lại: Chính những quyết định "nói không", lọc bỏ hay xóa dữ liệu hằng ngày trên môi trường số mới là tác nhân mạnh mẽ nhất kiến tạo nên "gu" của người tiêu dùng.
Khả năng xử lý khối lượng dữ liệu khổng lồ giúp AI có thể theo dõi lượng phát thải carbon, dự báo nguy cơ thiên tai, đánh giá mức độ tổn thương của chuỗi cung ứng cũng như xây dựng các kịch bản ứng phó trong tương lai...