“Tăng trưởng tín dụng cả năm có thể vượt 30%”

NGUYỄN HOÀI

05/11/2009 09:56 (GMT+7)

picture "Thời điểm cuối năm, việc huy động vốn không dễ dàng, do đó, khả năng tăng trưởng tín dụng như đầu năm của các ngân hàng thương mại là khó diễn ra".
E-mail Bản để in Cỡ chữ Chia sẻ: facebook twitter google rss
Không ít ý kiến cho rằng, nên dừng hỗ trợ lãi suất vì không nên tiếp tục bao cấp giá vốn, tạo nên sự ỷ lại cho doanh nghiệp, đồng thời tránh rủi ro cho hệ thống ngân hàng.

Nhưng vì sao Nhà nước vẫn tiếp tục kéo dài hỗ trợ lãi suất? Về vấn đề này, ông Nguyễn Văn Giàu, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, nói:

- Hiện nay, các đánh giá chính thống đều chung nhận định rằng: cơ chế hỗ trợ lãi suất vừa qua đã đạt được mục tiêu góp phần duy trì và phát triển sản xuất, kinh doanh, giải quyết việc làm, ngăn chặn đà suy giảm kinh tế, an toàn hệ thống ngân hàng.

Nhưng bên cạnh đó, do tình hình sản xuất chung vẫn còn khó khăn, hơn nữa, chủ trương của Chính phủ trong năm 2010 là tập trung các giải pháp kích thích kinh tế nên việc tiếp tục hỗ trợ lãi suất là cần thiết. Tuy nhiên, đợt hỗ trợ này chủ yếu tập trung vào khoản vay trung - dài hạn cho sản xuất, hỗ trợ lãi suất ngắn hạn chỉ kéo dài hết quý 1/2010 và mức hỗ trợ cũng giảm xuống 2%/năm.

Để ngăn ngừa suy giảm kinh tế, tại sao Ngân hàng Nhà nước lại lựa chọn giải pháp hỗ trợ lãi suất thay vì hành động như ngân hàng trung ương các nước khác?

Phải thấy rằng, trong số các gói kích thích kinh tế của các nước thực hiện vừa qua, chính sách tài khoá đóng vai trò cơ bản và quan trọng, chính sách tiền tệ hỗ trợ để ổn định kinh tế vĩ mô và tránh sự sụp đổ hệ thống ngân hàng.

Chẳng hạn, một số ngân hàng trung ương các nước đã giảm lãi suất tái cấp vốn xuống mức 0% - 1% /năm cho các ngân hàng thương mại vay để làm giảm lãi suất liên ngân hàng và gián tiếp giảm lãi suất cho vay doanh nghiệp. Mặc dù vậy, nhưng doanh nghiệp nước họ vẫn phải vay với lãi suất cao bởi rủi ro tín dụng tăng lên.

Ví dụ, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) công bố lãi suất tái cấp vốn từ 0% - 0,25%/năm nhưng doanh nghiệp vẫn phải vay thương mại với lãi suất từ 6% - 6,6%/năm, thậm chí còn cao hơn trước khủng hoảng.

Với Việt Nam thì sao? Ngân hàng Nhà nước đã nghiên cứu và đề xuất phương án hạ lãi suất cơ bản, tái cấp vốn xuống mức thấp (dưới 7%/năm) để giảm lãi suất cho vay đối với doanh nghiệp nhưng không có tính khả thi.

Bởi lẽ, khi đó lãi suất huy động thấp hơn lạm phát và không phù hợp cung - cầu vốn thị trường. Cũng có một số ý kiến khác cho rằng, nên hạ lãi suất cơ bản xuống, đồng thời hạ lãi suất huy động tiền gửi để có thể hạ lãi suất cho vay để hỗ trợ doanh nghiệp.

Quan sát hình thức thì có vẻ dễ chấp nhận nhưng nếu xem xét kỹ về tập quán, thu nhập bình quân và đặc điểm của nguồn tiền gửi vào hệ thống ngân hàng thì thấy rằng, phần lớn chúng được hình thành nhờ tuyệt đại bộ phận người dân, cán bộ tích lũy được để gửi vào tiết kiệm. Vì thế, trong bất cứ một giải pháp nào, Ngân hàng Nhà nước cũng phải giải quyết hài hòa quyền lợi người gửi tiền và người vay tiền.

Với lựa chọn giải pháp tăng khối lượng tiền cung ứng thì không thể thực hiện bởi bài học nhãn tiền từ năm 2007 do lượng tiền trong lưu thông tăng đột biến, từ đó xảy ra hàng loạt hệ lụy như thị trường tiền tệ, ngoại hối bất ổn, lãi suất hai chiều giảm đột biến, làm tăng giá cả thị trường và không loại trừ hiện tượng bong bóng chứng khoán và bất động sản.

Từ những phân tích trên, có thể thấy giải pháp hỗ trợ lãi suất 4% cho doanh nghiệp thông qua hệ thống ngân hàng là hoàn toàn phù hợp và có hiệu quả.

Hiện đang có lo ngại tăng trưởng nóng dư nợ tín dụng trước ngày 31/12/2009 để được hưởng mức hỗ trợ 4% - chênh lệch 2% so với mức hỗ trợ 2% trong quý 1/2010. Thống đốc nhận định vấn đề này như thế nào?

Mặc dù những tháng cuối năm nhu cầu tín dụng tăng nhưng tôi khẳng định không có khả năng ào ào xin vay vốn vì muốn vay được, bên vay phải đáp ứng đầy đủ điều kiện vay vốn thông thường do các ngân hàng thương mại đưa ra theo quy định của pháp luật.

Hơn nữa, trong bối cảnh không ít doanh nghiệp đang có lượng tồn kho hàng hóa cao, sẽ chẳng bao giờ có chuyện vì 2% hỗ trợ lãi suất để vay thêm tiền trong khi nhu cầu vốn không cao.

Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước cũng tăng cường hoạt động thanh tra, giám sát hệ thống, tránh và hạn chế đến mức thấp nhất hoạt động tín dụng trái với pháp luật, nhằm tập trung vốn cho khu vực sản xuất có nhu cầu vốn thực sự.

Theo phản ánh của các ngân hàng thương mại, “room” dư nợ tín dụng của họ đã vượt quá 30% nhưng kế hoạch lợi nhuận của họ chưa đạt, trong khi nhu cầu vay vốn vẫn cao, liệu Ngân hàng Nhà nước có nới hạn mức cho các ngân hàng thương mại?

Hết 9 tháng đầu năm, tốc độ tăng trưởng tín dụng là 29,3%, dự kiến cả năm có thể vượt quá 30%. Với hạn mức này hiện nay là tương đối phù hợp vì điều hành chính sách tiền tệ phải đặt trong mối tương quan vừa phải hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, vừa phải ngăn ngừa tái diễn lạm phát.

Hơn nữa, thời điểm cuối năm, việc huy động vốn không dễ dàng, do đó, khả năng tăng trưởng tín dụng như đầu năm của các ngân hàng thương mại là khó diễn ra.

(Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết)

  • Minh Khoi

    13:57 (GMT+7) - Thứ Sáu, 6/11/2009

    Cá nhân tôi cho rằng việc tiếp tục hỗ trợ lãi suất, trong khi room tín dụng không tăng sẽ không giảm quyết bài tóan vốn cho Doanh nghiệp, vì:

    - Không biết có phải ý tưởng ban đầu của việc hỗ trợ lãi suất là kích cầu hay không? Nhưng Tôi cảm thấy việc hệ quả của nó là chúng ta lại phải kêu gọi người Việt dùng hàng Việt (hàng không tiêu thụ được) vậy khả năng thanh tóan nợ sẽ khó khăn?

    - Khi các NHTM đầy room cũng giống như chiếc xe bus khi trên xe đã đầy hành thì việc có giảm giá vé hành cũng không lên được nếu không có người xuống.

    Như vậy chính sách Hỗ trợ lãi suất đã đạt yêu cầu chưa và có nên kéo dài hay không?

  • Phúc Thanh

    10:39 (GMT+7) - Thứ Sáu, 6/11/2009

    Tôi không đồng ý với ý kiến của Hồng Hải bởi 2 lí do:

    - Thứ nhất, việc điều hành CSTT trong những thời khắc khó khăn, nhạy cảm càng phải linh hoạt và cẩn trọng nên không thể nói chính xác cái gì.

    - Thứ hai, CSTT là một công cụ điều tiết vĩ mô của Chính phủ thông qua NHNN nên phải đảm bảo tính định hướng, ổn định cho phù hợp với từng thời kì, từng giai đoạn cụ thể.

  • Nguyễn Toàn

    21:17 (GMT+7) - Thứ Năm, 5/11/2009

    Theo tôi thì Chính phủ cần có chính sách kinh tế nhất quán hơn. Trong khi Chính phủ tiếp tục đề xuất gói kích cầu thứ hai bằng việc hỗ trợ lãi suất từ nguồn ngân sách (thực hiện chính sách tài khóa mở rộng) thì NHNN phải kiểm sóat và thực thi CSTT thắt chặt vì tăng trưởng tín dụng quá cao (30%) nhưng tăng trưởng kinh tế còn hạn chế. Như vậy có thể nói chưa có sự nhất quán trong các chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ.

    Theo tôi, NHNN có lý để thực thi CSTT thắt chặt khi lượng cung tiền lớn mà nền kinh tế kém hiệu quả thì nguy cơ tái lạm phát có thể xảy ra.

    Do vậy việc áp dụng gói kích cầu thứ hai Chính phủ chỉ nên hỗ trợ cho những lĩnh vực kinh tế quan trọng có tính khả thi và hiệu quả cao. Nếu tương tự gói thứ nhất thì khả năng tái lạm phát xảy ra là rất lớn.

  • Huy Hung

    17:20 (GMT+7) - Thứ Năm, 5/11/2009

    Theo tôi, với tình hình khó khăn của các doanh nghiệp trong nước năm 2008 thì việc tăng trưởng tín dụng trên 30% là điều hiển nhiên.

    Thiết nghĩ, nếu không có chính sách như vậy, các DN khó khăn hơn thì các NHTM làm sao tăng trưởng tín dụng (nói cách khác là lòng tin về các DN có khả năng trả nợ làm sao mà cao lên được).

    Các NHTM cứ nói là "quá vất vả chạy theo những con số thay đổi quá nhanh" nhưng kết quả lợi nhuận của các NHTM thì vẫn cứ tăng vù vù, mà còn chưa tính đến chuyện là 1 số NHTM còn vượt chỉ tiêu lợi nhuận hay hoàn thành chỉ tiêu trước thời hạn, do vậy tôi không đồng tình với ý kiến bạn Hong Hai lắm.

  • Mai Hùng Dũng

    16:10 (GMT+7) - Thứ Năm, 5/11/2009

    Quý vị vào các website của các NH TMCP để xem các Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông của các NH thì sẽ thấy rằng, hầu như không có NH nào đặt kế hoạch tăng trưởng tín dụng dưới 30% cả, nhất là các NH mới thành lập và đang phát triển mạnh.

    Đến nay, hầu hết các NHTMCP đều đã vượt mức tăng trưởng tín dụng 30%. Trong khi đó số liệu thực hiện của các NH TM Nhà nước đều đã xấp xỉ ngưỡng 30% và vượt 30%.

    Vậy thì không phải là "có thể" mà là "chắc chắn" tăng trưởng tín dụng năm 2009 vượt mức 30% trừ khi NHNN thực hiện chính sách thắt chặt tín dụng. Tuy nhiên, thời điểm cuối năm mà thắt chặt tín dụng là chưa phù hợp với xu hướng tín dụng hàng năm.

    Theo tôi NHNN cần có định hướng tăng trưởng tín dụng cho toàn ngành năm 2010 để phù hợp với chính sách tài chính tiền tệ quốc gia. Từ đó NHNN yêu cầu các NHTM đăng ký Kế hoạch tăng trưởng tín dụng 2010 và NHNN là cơ quan điều phối việc đăng ký này.

  • Nguyễn Hưng

    15:57 (GMT+7) - Thứ Năm, 5/11/2009

    Chính sách tiền tệ phải linh hoạt, nhưng theo tôi linh hoạt phải trong một kế hoạch có sự ổn định nhất quán. Mình đồng ý với Hồng Hải, Ngân hàng TM không phải là cái chong chóng... phải tạo cho họ sự ổn định trong kinh doanh, có như vậy thì mới mong hệ thống ngân hàng phát triển an toàn, bền vững được.

  • Lê Văn Tít

    15:00 (GMT+7) - Thứ Năm, 5/11/2009

    Lãi suất cơ bản thay đổi là bình thường, nền kinh tế cũng như 1 cơ thể sống, khi phát triển, có khả năng hấp thụ vốn thị bơm thêm vào! nền kinh tế đang ốm mà nhồi thêm vốn rồi tiêu hóa hết thì có mà lạm phát sớm!

    Các NHTM không theo kịp thì phải xem lại mình thôi, không biết luật NH sắp tới ntn?

  • Anna

    13:58 (GMT+7) - Thứ Năm, 5/11/2009

    Với gói hỗ trợ kích cầu thứ 1 đã phát huy tác dụng trong thời gian vừa qua. Một số ý kiến đã cho rằng dư nợ tín dụng thực chất đã tăng hơn mức 30% trước khi họp trình Quốc Hội...

    Việc đưa ra các con số để đạt cho bằng được chúng không quan trọng. Thiết nghĩ việc đưa ra các chỉ tiêu đặc biệt như dư nợ tín dụng, lạm phát... phải dựa trên cơ chế và chính sách điều hành tài chính tiền tệ, nhằm mang lại định hướng phát triển bền vững nhất.

    Tôi phần nào đồng ý với ý kiến của bạn Hong Hai. Cần đưa ra các con số chuẩn hơn và chính xác hơn để việc điều hành được nhất quán.

  • Nguyễn Ngọc Huy

    12:09 (GMT+7) - Thứ Năm, 5/11/2009

    Trước tình hình kinh tế còn biến động khó lường như hiện nay, tôi hoàn toàn ủng hộ chính sách điều hành linh hoạt như hiện nay của Ngân hàng Nhà nước. Tăng trưởng tín dụng có thể thay đổi tùy theo khả năng hồi phục, và nhu cầu vốn của nền kinh tế.

    Trong thời điểm hiện nay nếu định hướng cứng nhắc từ đầu năm có thể gây khó khăn cho đà hồi phục kinh tế. Chính sách định hướng chỉ có thể phát huy tốt khi nền kinh tế ổn định trở lại.

  • Hong Hai

    10:50 (GMT+7) - Thứ Năm, 5/11/2009

    Rất mong Thống đốc xem lại những tuyên bố mang tính định hướng của NHNN trong việc điều hành chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng.

    Đầu năm: 20-23%, giữa năm 25-27%, quý 3: không quá 30%, hôm nay: trên 30%.

    Hệ thống NHTM quá vất vả chạy theo những con số thay đổi quá nhanh như vậy, làm sao mà chủ động kinh doanh hoặc giữ ổn định thị trường vốn?

    Để tránh những tình huống nhạy cảm không có lợi, thiết nghĩ nên có sự nhất quán và tính toán chuẩn xác hơn trong kế hoạch điều hành vĩ mô nhằm tạo thuận lợi và minh bạch hóa môi trường kinh doanh tiền tệ. Xin hãy chỉnh đốn bắt đầu từ năm 2010!

Gõ Telex   Gõ VNI

(Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu. VnEconomy xin chân thành cảm ơn bạn!)

Họ và tên bạn: Tên của bạn
Địa chỉ e-mail: Email của bạn
Nội dung của bạn
Tài chính

Thu Thảo

22:24 (GMT+7) - Thứ Năm, 9/2/2012

Cảm ơn tác giả vì bài viết này! Nó thực sự hay và bổ ích với tôi!...

Trong bài: Khủng hoảng nợ dưới chuẩn tại Mỹ: Từ A đến Z (13 ý kiến)

Nguyễn Hoàng Long

10:19 (GMT+7) - Thứ Năm, 9/2/2012

Trong cơ chế thị trường, các ngân hàng thương mại cũng là những doanh nghiệp hoạt động trong môi trường cạnh tranh. Việc các doanh...

Trong bài: “Phải giải quyết thanh khoản ngân hàng trong quý 1/2012” (2 ý kiến)

Khánh Hà

09:17 (GMT+7) - Thứ Năm, 9/2/2012

Một điều dễ hiểu khi các NH không muốn giảm lãi suất cho vay và hết kêu ca về thanh khoản là: có trần lãi...

Trong bài: “Phải giải quyết thanh khoản ngân hàng trong quý 1/2012” (2 ý kiến)

Dang Hai

08:37 (GMT+7) - Thứ Năm, 9/2/2012

Trong trường hợp này theo tôi ngân hàng là người chịu thiệt nhất. Cán bộ pháp chế của ngân hàng này nói chung là yếu...

Trong bài: Cực hình từ tín dụng “đen” (35 ý kiến)

Thiên An Bình

11:55 (GMT+7) - Thứ Tư, 8/2/2012

Vàng có thể lên nữa tùy theo kinh tế thế giới khỏe hay yếu nhưng đô la không thể lên được mà có nhích lên...

Trong bài: Giá vàng trong nước đuối sức khi USD tự do lao dốc mạnh (1 ý kiến)