Thống đốc Nguyễn Văn Giàu: Sao phải sợ Thông tư 13?

NGUYỄN HOÀI

14/08/2010 18:46 (GMT+7)

picture Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu.
E-mail Bản để in Cỡ chữ Chia sẻ: facebook twitter google rss
Thông tư 13/TT-NHNN quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn hoạt động các tổ chức tín dụng vừa mới ban hành, nhưng bị các ngân hàng thương mại kêu khó thực hiện do chuẩn mực quá cao.

Tuy nhiên, "thông tư này cũng chỉ mới dừng ở tầm thấp, có tính tập dượt chứ đâu phải ở tầm cao, thậm chí, một số chuyên gia còn phê bình Ngân hàng Nhà nước rằng, một số chuẩn mực và tỷ lệ quy định tại thông tư này còn thấp", Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu nói về vấn đề này.

Thưa Thống đốc, nhiều ngân hàng thương mại nói rằng, rào chắn kỹ  thuật để đảm bảo an toàn hệ  thống do Ngân hàng Nhà nước dựng lên tại Thông tư 13 quá cao, khiến họ rất khó kinh doanh, Thống đốc có ý kiến gì?

Mục tiêu của chính sách tiền tệ là ổn định giá trị đồng tiền, đảm bảo an toàn hệ  thống ngân hàng và hệ thống thanh toán. Quá  trình hội nhập của Việt Nam đi từ thấp đến cao, những quy định trong Thông tư 13 cũng không nằm ngoài mục đích là đưa hoạt động ngành ngân hàng vươn tới những chuẩn mực cao hơn.

Khi hệ thống hoạt động an toàn thì ai là người có lợi? Đầu tiên phải là tổ chức tín dụng, kế tiếp là lợi ích cho xã hội vì hệ thống ngân hàng an toàn thì tổn thất cho xã hội sẽ rất ít. Nhờ đó mà hoạt động quản lý cũng thuận lợi hơn.

Hơn nữa, thông tư này cũng chỉ mới dừng ở tầm thấp, có tính tập dượt chứ đâu phải ở tầm cao, thậm chí, một số chuyên gia còn phê bình Ngân hàng Nhà nước rằng, một số chuẩn mực và tỷ lệ quy định tại thông tư này còn thấp. Từ 1/1/2011 khi thực hiện luật mới, chuẩn mực còn cao hơn.

Các ngân hàng thương mại không tranh thủ điều kiện của Thông tư 13 để nâng chuẩn quản trị an toàn của mình lên thì cũng phải xem lại mình. Tại sao họ lại sợ?  

Thưa Thống đốc, để dự trữ thanh toán, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu giữ lại 20% nguồn vốn huy động, nay lại loại bỏ nốt nguồn tiền gửi không kỳ hạn của tổ chức vốn chiếm 15% tổng nguồn vốn huy động ra khỏi nguồn vốn, tại sao Ngân hàng Nhà nước lại khắt khe đến vậy?

Nguồn tiền gửi không kỳ hạn của tổ chức kinh tế  không phải ít, có thể họ muốn gửi có kỳ hạn, nhưng vì lý do gì đó bên trong nên họ để “không kỳ hạn”.

Cứ hình dung, tiền gửi không kỳ hạn kể cả của Kho bạc, có thể gửi sáng nhưng trưa rút đi, và bất kỳ lúc nào cũng mất thanh khoản nếu không có dự trữ tốt.

Hoặc tiền gửi thanh toán cũng vậy. Ngày xưa, loại tiền gửi thanh toán không bao giờ nằm trên tài khoản nhiều vì tất cả giám đốc tài chính doanh nghiệp phải sử dụng triệt để nguồn tiền này và di chuyển như chong chóng thì mới đem lại lợi nhuận cao. Còn việc nói là có một tỷ lệ đọng lại khoảng 10% - 15% thì cái đó có thể đúng nhưng không phải vì thế mà coi đó là cơ số ổn định.  

Một thực tế ở Agribank là số tiền gửi không kỳ hạn của Kho bạc, Bảo hiểm Xã hội, tổ chức kinh tế hiện tới 133 nghìn tỷ đồng. Có ý kiến: nếu không được kinh doanh, không những lãng phí mà còn mất an toàn, Thống đốc giải thích như thế nào?

Tôi cũng phân vân về vấn đề này.

Vì tiền gửi kho bạc là phải tập trung tại Kho bạc hoặc gửi Ngân hàng Nhà nước còn những nơi không thuận tiện thì gửi ngân hàng thương mại. Lâu nay các ngân hàng thương mại đặc biệt là Agribank cũng muốn coi đó là một phần trong tổng nguồn huy động vì nó chiếm một tỷ trọng lớn, nhưng tới đây, khi thực hiện Luật Ngân hàng Nhà nước mới thì tiền gửi Kho bạc phải mở tài khoản tại Ngân hàng Nhà nước, ngoại trừ trường hợp không thuận tiện thì do Ngân hàng Nhà nước quy định.

Phải thấy rằng, tiền gửi Kho bạc cũng chỉ mang tính tạm thời. Hiện nay có khoản 56 nghìn tỷ đồng tiền gửi kho bạc tại các ngân hàng thương mại, so với đầu năm tăng khá đột biến. Một đặc điểm của chúng là tính không ổn định, nếu giải ngân nhanh thì ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng báo động đỏ.

Điều này cũng đúng thôi, không lẽ Chính phủ phát hành trái phiếu với lãi suất cao rồi đem chôn tiền ở ngân hàng? Như thế không những không giải quyết được gì nhiều cho nền kinh tế mà còn phát sinh tiêu cực.

Ở các nước không bao giờ có chuyện đó. Đã là tiền gửi Kho bạc thì không thể coi đó là nguồn vốn kinh doanh của các ngân hàng thương mại. Những gì thuộc về lịch sử thì phải chấp nhận nhưng trong một tương lai làm ăn chắc chắn và hội nhập thì phải đàng hoàng.  

Còn đối với tiền gửi không kỳ hạn của Bảo hiểm Xã hội thì tại sao cũng phải loại bỏ khỏi nguồn vốn kinh doanh?

Cũng đừng vội mừng khi nhận số tiền gửi này. Hiện số dư của nhóm này khoảng 100 nghìn tỷ đồng và họ làm giá quá trời. Cũng vì một phần như vậy mà lãi suất rất khó kéo xuống. Chưa kể với số lượng lớn như vậy, nếu họ di chuyển từ ngân hàng này đến ngân hàng khác (do làm giá) thì các ngân hàng còn “hẻo” nữa.

Các anh cứ xuống mấy ngân hàng Vietinbank hay Agribank mà hỏi xem có đúng thế không?

Nếu đột ngột không cho phép đưa tiền gửi không kỳ hạn của tổ chức vào kinh doanh sẽ gây hẫng hụt và ngân hàng thương mại sẽ không cân đối được nguồn, Ngân hàng Nhà nước tính sao, thưa Thống đốc?

Đối với vấn đề này, chúng tôi có hai hướng: nếu ngân hàng Trung ương còn chỉ tiêu tiền cung ứng thì hỗ trợ các ngân hàng thương mại hoặc cho họ lộ trình để loại bỏ khoản mục này khỏi nguồn vốn kinh doanh.

Nhưng tôi khẳng định, trong vài năm nữa, dòng tiền này phải được quản lý chặt chẽ và không thể  để như trước. Đừng quên vụ việc Tết Nguyên  đán vừa rồi, Kho bạc rút đột ngột 10 nghìn tỷ đồng, Bảo hiểm Xã hội rút 10 nghìn tỷ đồng, nếu ngân hàng Trung ương không can thiệp kịp thời thì hệ thống “có chuyện to”, lúc đó ai chịu?

So với các nguyên tắc Basel thì  mức độ tiệm cận của Thông tư 13 như thế nào?

So với nguyên tắc Basel I và II thì còn lâu lắm mới bằng. Thế giới họ đã đi đến Basel III rồi còn mình thì vẫn thế này đây. Hiện tại, Việt Nam có tới gần 100 tổ chức tín dụng, nội có ngoại có, liên doanh có, sao cứ phải đá ở sân “nội” mãi được?

(Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết)

  • Nguyen Thuong Huyen

    14:03 (GMT+7) - Chủ Nhật, 12/9/2010

    Hoan hô Thống đốc NHNN! Có gì mà phải sợ Thông tư 13. Lâu nay các điều kiện về tỷ lệ an toàn trong hoạt động ngân hàng còn quá thấp, nếu không sớn nhận diện sẽ dẫn đến mất an toàn của thị trường tài chính trong điều kiện nền kinh tế nước ta hội nhập ngày càng sâu. Đã đến lúc chúng ta phải tạo lập và thực thi các chuẩn mực tiệm cận với thông lệ quốc tế để các ngân hàng TM Việt Nam hoạt động hữu hiệu.













































































  • Minh Nguyễn

    08:15 (GMT+7) - Thứ Tư, 18/8/2010

    Cảm ơn Thống đốc vì đã có những bước đi đúng đắn và cần thiết, mặc dù có một số bộ phần hô hào, phản đối chỉ vì đụng chạm đến quyền lợi của họ.

  • Rin

    00:44 (GMT+7) - Thứ Tư, 18/8/2010

    Tôi đồng ý với quan điểm của bạn Hoang Ha!

  • Hai Nam

    16:49 (GMT+7) - Thứ Ba, 17/8/2010

    Bài của Hoang Hà dài ko đọc hết nhưng đọc qua câu cuối cùng của bác "Còn đã kinh doanh phải chấp nhận rủi ro và mức độ chấp nhận rủi ro đến đâu tùy thuộc vào mỗi ngân hàng." cho thấy bác đã lạc hậu or ko theo dõi thời sự TC quốc tế.
    Chả phải ở Mỹ thời gian qua phải chạy đôn đáo để ban hành đạo luật quản lý các NH đấy sao mặc dù trình độ quản lý, tính chuyên nghiệp ... của họ vượt xa VN?
    NH là lĩnh vực kinh doanh đặc biệt, chức năng chủ yếu là "lấy tiền người này, cho người khác vay" do đó không thể nói như bác được. Rủi ro xảy ra với họ có tác động rất lớn đến cả nền kinh tế, đến người dân... Bài học "Too big to fail" ở Mỹ vẫn đang còn hot.

  • Seria

    16:30 (GMT+7) - Thứ Ba, 17/8/2010

    Đọc các ý kiến phản hồi tôi thấy khen nhiều hơn chê. Theo quan điểm của tôi thì Thông tư này là tích cực. Một số các thành viên thị trường có sự phản hồi là đúng vì nó liên quan đến lợi ích của họ. Tuy nhiên không thể vì thiểu số và lợi ích trước mắt mà không có sự quản lý nghiêm túc ngay từ đầu.

    Một số tính toán của bạn Hoang Ha tôi hoan nghênh nhưng bạn chỉ thấy phần lợi chứ không nhận định được tác hại và rủi ro mà cả hệ thống ngân hàng gặp phải và một số biện pháp bạn đưa ra không khả thi "SBV có thể có các công cụ để phục vụ nhu cầu thanh khoản hoặc là SBV cần tính toán lượng tiền mặt cần thiết vào cuối năm rồi yêu cầu các ngân hàng tăng tỷ lệ dữ trữ lên giai đoạn đó (do tính mùa vụ) thì tốt hơn là việc không quản lý mà bắt không cho sử dụng vào kinh doanh".

    Hơn nữa chắc để hiểu được vì sao NHNN có quy định đó thì phải biết được bảng cân đối của hệ thống ngân hàng và việc NHNN phải gánh trách nhiệm bình ổn thị trường một mình khi thị trường biến động.

  • Bailthemout

    15:23 (GMT+7) - Thứ Ba, 17/8/2010

    Thực tế chúng ta chưa cần áp dụng Bal II 1 cách máy móc vì phần khó nhất vẫn là định giá & quản lý rủi ro từ derivatives. Trong khi chúng ta chưa cho phép giao dịch derivatives phổ biến thì TT 13 là 1 công cụ phù hợp và hiệu quả với điều kiện hiện nay.

    Nếu cứ nuông chiều, thả lỏng các NH thì khi khủng hoảng xảy ra họ sẽ lại cầu cứu SBV. Giống như US & EU, nợ tư sẽ trở thành nợ công. Bal 3 có thể sẽ mở rộng khái niệm value at risk (VAR) ra distressed value at risk (DVAR).

  • Xây dựng

    13:04 (GMT+7) - Thứ Ba, 17/8/2010

    Muốn không có tai nạn giao thông thì ngồi nhà là biện pháp tối ưu. Chính sách đúng và phù hợp sẽ được thực tế kiểm chứng. Quan điểm là phải có lộ trình phù hợp với thực trạng kinh tế Việt nam khi ban hành các chính sách mới theo hướng tiệm cận với thành tựu của thế giới trong quản lý hoạt động ngân hàng. Nếu không thì cũng chỉ là căn bệnh nóng vội, giáo điều mà thôi. Chèo lái con tàu kinh tế của đất nước phải "lụa", chứ đừng giật cục làm cho khách đi tàu say và ốm hết.

  • Hoang Ha

    11:38 (GMT+7) - Thứ Ba, 17/8/2010

    Chào bạn Thanh,

    Ở đây tôi không nói đến vấn đề lợi nhuận của ngân hàng, mà đó là sự lãng phí cho nền kinh tế. Đối với tiền gửi của Kho Bạc nhà nước tôi đồng ý không để kinh doanh nhưng tiền gửi KKH của TCKT, dân cư thì tôi không đồng ý việc không cho kinh doanh vì nó gây lãng phí cho nền kinh tế (dân cư, tổ chức kinh tế, ngân hàng….).

    Tiền gửi không kỳ hạn cũng là một nguồn lực và ngân hàng có thể chuyển hoán kỳ hạn nguồn của chúng. Nếu cấm còn xảy ra tiêu cực khi các ngân hàng lách luật và nó sẽ phản ánh không đúng thực tế việc sử dụng tiền gửi không kỳ hạn đó, càng làm cho chúng ta có thể bị ru ngủ.

    Còn rủi ro, đã kinh doanh phải chấp nhận rủi ro. Cái thiếu ở đây là SBV lúc nào cũng nói quản lý rủi ro nhưng cần phải đưa ra một khung các quy định về quản lý rủi ro – ví dụ như là quy định về quản lý rủi ro trong hoạt động của ngân hàng thương mại (quy định về cho vay , quy định về bảo lãnh….đều có sao không có quy định về quản lý rủi ro) chứ không phải là không quản lý được thì cấm. Phải có quy định như vậy, rồi công khai số liệu báo cáo mới giúp chúng ta có hệ thống tài chính lành mạnh được.

    Tôi hỏi bạn rằng, ngày nào các ngân hàng cũng báo cáo SBV số liệu báo cáo tài chính tại sao không thấy SBV công bố, thậm chí báo cáo tài chính hàng quý các ngân hàng cũng không công bố trên trang web (trừ các NHTM đang niêm yết trên thị trường chứng khoán) hoặc SBV cũng không đưa lên.

    Cái minh bạch này mới quan trọng chứ không phải cấm không sử dụng nguồn vốn KKH là quan trọng. Đố bạn lấy được báo cáo tài chính (hàng tháng hoặc hàng quý) của tất cả các ngân hàng đó trong khi ngày nào các ngân hàng cũng nộp SBV báo cáo tài chính.

    Trong 3 trụ cột của Basel 2: các yêu cầu vốn tối thiểu, quy trình xét duyệt giám sát và kỷ luật thị trường. Trong kỷ luật thị trường yêu cầu: Ngân hàng được yêu cầu tăng cường công khai thông tin, đặc biệt các chỉ số đo lường rủi ro tín dụng và hoạt động. Mở rộng nội dung và tăng tính minh bạch đối với thị trường về các công bố tài chính.

    Tóm lại vấn đề là ở đó: cần có quy định về khung quản lý rủi ro bắt buộc đối với NHTM (kiểu như quy định về cho vay, quy định về bảo lãnh….) và cần phải minh bạch thông tin.

    Còn đã kinh doanh phải chấp nhận rủi ro và mức độ chấp nhận rủi ro đến đâu tùy thuộc vào mỗi ngân hàng.

  • Thanh

    09:12 (GMT+7) - Thứ Ba, 17/8/2010

    Bác Hoàng Hà phân tích ngang như cua, bác phân tích cứ như thể là thế giới hoàn mỹ của Songoku ấy, bác toàn tính đường lợi nhuận, thế còn rủi ro bác vứt đi đâu?

  • Hoang Ha

    16:06 (GMT+7) - Thứ Hai, 16/8/2010

    Theo tôi, thông tư 13 là một bước tiến nhưng còn một vài điểm quá chặt, điển hình là việc loại bỏ nốt nguồn tiền gửi không kỳ hạn của tổ chức là không cần thiết, bởi vì:

    - Loại bỏ một phần nguồn vốn kinh doanh có độ ổn định cao: Chúng ta đều biết rằng ngân hàng hoạt động trên nguyên tắc là không phải tất cả các khách hàng đều rút tiền cùng một lúc, lúc nào cũng có người gửi vào và rút ra; và ngân hàng là người chuyển hoán kỳ hạn của nguồn vốn từ ngắn hạn sang trung dài hạn - đây là một đặc điểm quan trọng vì nguồn dài hạn rất quan trọng do người gửi tiền thường gửi tiền với thời hạn ngắn.

    Chúng ta cùng phân tích một ví dụ: ngân hàng A có lượng tiền gửi không kỳ hạn là luôn ở có số dư nằm trong khoảng 1000-3000 tỷ đồng. Vậy ngân hàng có nên kinh doanh 1.000 tỷ kia không hay lúc nào cũng để đó và không sử dụng. Thực tế, ngân hàng sẽ tính lượng core deposit qua các công cụ, phân tích hành vi khách hàng… để tính toán được lượng vốn ổn định rồi phân bổ cho các kỳ hạn và có thể dùng để kinh doanh.

    Ở đây lượng vốn KKH có loại do lũy kế và ổn định cao có thể là kỳ hạn tới 1 năm (ngày nào cũng có người gửi vào và người rút ra nhưng luôn có số dư tối thiểu rất ổn định).

    - Nếu không sử dụng tiền gửi KKH vào kinh doanh sẽ gây lãng phí cho nền kinh tế, người gửi tiền và cả ngân hàng: ngân hàng khi đó sẽ không trả lãi cho tiền gửi KKH vì họ có sử dụng vốn đó vào kinh doanh đâu, còn khách hàng không có lãi thậm chí còn chịu phí và tất nhiên 1 phần vốn KKH mà phần này ổn định không được sử dụng sẽ gây lãng phí cho nền kinh tế (vốn bỏ không, tác động đến cung-cầu tiền, chi phí quản lý...).

    Đối với riêng ngân hàng, nếu không sử dụng tiền gửi KKH sẽ khiến cho chi phí huy động của họ ở mức cao (trước đây có lượng vốn KKH kéo lãi suất đầu vào giảm nhưng nay không có thì nó sẽ tăng lên).

    Nếu bạn tính cả nền kinh tế xem lượng vốn không kỳ hạn rất lớn, mỗi ngân hàng khoảng 15% nguồn vốn huy động, cả hệ thống lượng tiền gửi nếu là 2 triệu tỷ đồng thì có khoảng 300.000 tỷ đồng không được sử dụng, lượng vốn này ngày nào cũng có trong nền kinh tế. Nếu lãi suất là 3.6%/năm thì khoản lãi 1 năm sẽ là 10.800 tỷ. Thật sự lãng phí!

    - Giả sử NHNN cấm nhưng các ngân hàng vẫn có cách lách, đơn giản họ bảo khách hàng gửi tiền vào sản phẩm cho phép khách hàng rút tiền trước hạn (Việt Nam khách hàng được rút trước hạn và không bị phạt, anh rút trước hạn vẫn được hưởng mức lãi nào đó, anh gửi kỳ hạn 1M vẫn được rút vào ngay ngày mai cơ mà) trong khi đó họ thỏa thuận ngầm với nhau là rút tiền báo trước cho tôi trước 2-3 tiếng thì sao. Cả anh và tôi đều được lợi cơ mà.

    Lúc đó thật sự là xảy ra tình trạng rằng số liệu không phản ánh chính xác tình hình thực tế, sẽ càng gây rối ren hơn.

    - Trong trường hợp này SBV không phải không quản lý được mà cấm, mà họ phải tách và phân biệt là tiền gửi của Kho bạc nhà nước hoặc Bảo Hiểm Xã hội ra khỏi hệ thống ngân hàng.

    Sở dĩ như vậy vì khi các định chế này dùng tiền là dùng ngay và dùng với số tiền lớn, lượng vốn lớn sẽ ra khỏi ngân hàng. Còn đối với các tổ chức kinh tế là họ vì mục tiêu kinh doanh nên để tiền gửi thanh toán, chuyển tiền nó dễ hơn và đỡ phải thủ tục nhiều hơn nên để ở đó.

    Có khi họ để ở đó nhưng 3-4 ngày sau họ mới dùng tới, lượng vốn của họ cũng không thể là mấy nghìn tỷ được mà chỉ vài chục, vài trăm tỷ là cao, không như của Kho Bạc Nhà nước có thể là 5.000 tới 10.000 tỷ.

    - Cuối cùng tiền suy cho cùng nó không nằm tại ngân hàng này nó sẽ nằm tại ngân hàng khác và một phần sẽ ở trong tay dân chúng để thực hiện thanh toán tiền mặt.

    Và nhu cầu tiền mặt tăng lên vào cuối năm, lúc đó SBV có thể có các công cụ để phục vụ nhu cầu thanh khoản hoặc là SBV cần tính toán lượng tiền mặt cần thiết vào cuối năm rồi yêu cầu các ngân hàng tăng tỷ lệ dữ trữ lên giai đoạn đó (do tính mùa vụ) thì tốt hơn là việc không quản lý mà bắt không cho sử dụng vào kinh doanh.

  • Phanminhnghia

    13:44 (GMT+7) - Thứ Hai, 16/8/2010

    Những lời chia sẻ của bác Danh thật xác đáng.

  • Duc Luu Danh

    12:56 (GMT+7) - Thứ Hai, 16/8/2010

    Thưa các bác, tôi là chuyên gia trong ngành NH 20 năm nay, mà sốt ruột quá lâu mới có 1 qui định mới chặt chẽ và gần hơn với tập quán thông lệ ra đời.

    Đó là thiệt thòi và rủi ro cho ngành và nền kinh tế. hãy làm những gì người ta cùng tuân theo đi, để đừng lạc loài và tụt hậu mãi.

    Đầu những năm 90 tôi đi làm việc ở nước ngoài đến đâu cũng đọc thấy trong các cuốn tra cứu quốc tế có câu: áp dụng cho các nước trừ VN, cay quá! Tại sao?

    Các vị kinh doanh NH chỉ có quan điểm kiếm lợi không thì chỉ có tầm nhìn ngắn mà không lo chuyện hậu sự, đặc biệt một số NH cổ phần mới chuyển đổi được các vị cổ đông mới tham gia làm NH lôi ra từ các vùng miền xa xôi. các vị nên thận trọng.

    Tài chính NH khác xa lắm so với các việc kinh doanh của Quí vị, nhất là trong bối cảnh thị trường VN hiện nay, vô cùng tiểm ẩn. Tướng hay phải nghĩ đường lui. Các vị chưa thể tự vệ nổi đâu và càng không thể chống đở nổ cho nền kinh tế này đâu một khi hữu sự.

    2-3 năm nữa quí vị sẽ thấy. Hãy cám ơn nếu Thống đốc làm chặt chẽ hơn cho hoạt động này. Các vị bị làm khó bởi các điều kiện chặt chẽ hơn ư? Hãy hiểu cho đúng là minh chưa đủ điều kiện đi, không lúc bão đến lại hối hận minh yếu.

    Xin chia sẻ quan điểm nghề nghiệp thôi.

  • NV Xuan

    11:40 (GMT+7) - Thứ Hai, 16/8/2010

    Tôi nghĩ thông tư 13 là một cách làm đúng hướng trong việc kiểm sóat rủi ro của hệ thống tài chính nhân hàng.

    Liên quan đến khả năng sụp đổ của Hy Lạp, cách đây hơn 2 tháng Tổng Thống Mỹ Obama đã yêu cầu các ngân hàng châu âu làm kiểm tra “stress test”.

    Hạt nhân của việc kiểm tra này là kiểm tra xem các ngân hàng châu âu có đạt chuẩn Basel II không. Cho đến thời điểm này kết quả công bố trên báo chí châu âu cho biết hầu hết các ngân hàng châu âu vượt qua được “stress test”.

    So sánh sơ bộ thông tư 13 và Basel II, thì thông 13 chỉ đơn giản là nâng tỷ lệ an tòan lên một ít và chưa đáng giá tổng thể được mức độ rủi ro của họat động tài chính trong nhiều nhiều lĩnh vực khác nhau.

    Dẫu sao tôi nghĩ đây là một bước đi đúng.

  • Thienminh

    08:45 (GMT+7) - Thứ Hai, 16/8/2010

    Tôi khâm phục chính sách tiền tệ của ông Giàu. Trong khủng hoảng đã đưa con tàu kinh tế Việt Nam đi rất ổn định. Bên cạnh đó với khuôn mặt phúc hậu điềm đạm, không tỵ hiềm, đối nghịch đã tạo dựng con đường tốt nhất cho ổn định kinh tế thời gian qua và nay đến tương lai. Chúng tôi tin tưởng chính sách của ông và các bộ phận bên dưới. Rất khâm phục ông.

  • Minh Tùng

    08:38 (GMT+7) - Thứ Hai, 16/8/2010

    Hoan nghênh Thống đốc. Mong Thống đốc làm triệt để nhằm giúp cho ngành ngân hàng đi vào nề nếp, không phát sinh tiêu cực và hạn chế rủi ro.

  • Quỳnh Anh

    07:36 (GMT+7) - Thứ Hai, 16/8/2010

    Để nhìn vào việc nguồn vốn ngân hàng có ổn định hay không thiết nghĩ nên nhìn vào số dư bình quân, chứ không phải kỳ hạn hay không kỳ hạn mà chỉ tính thời điểm.

    Vốn huy động không kỳ hạn mà duy trì 1 số dư ổn định còn tốt hơn vốn huy động kỳ hạn mà không ổn định vì về nguyên tắc tất cả khách hàng cũng đều có quyền rút trước hạn dù vốn đó gửi kỳ hạn dài đến đâu.

    Nếu vốn huy động không kỳ hạn hoàn toàn bị loại trừ ra khỏi vốn huy động để tính tỷ lệ cho vay thì có lẽ lãi suất không kỳ hạn trả cho khách hàng sẽ = 0 vì các NH chẳng dùng nguồn này vào việc gì được,mà còn tốn chi phí cho việc cất giữ nó nữa.

    Nguồn vốn không kỳ hạn có giá vốn rẻ, nếu hoàn toàn không được sử dụng thì ngân hàng cũng khó có cơ sở giảm lãi suất cho vay đối với khách hàng.

  • Phan Thanh Trung

    23:34 (GMT+7) - Chủ Nhật, 15/8/2010

    Tôi cũng hoàn toàn đồng ý với Thông tư 13 và những gì Thống đốc đã nói.

    Nếu chúng ta chỉ chạy theo lợi nhuận, bằng cách đem đổ tiền đi đầu tư hay đi cho vay hết. Thì một mai nếu như có tin đồn gì hoặc giả có những thông tin bất lợi như vụ của ACB mấy năm trước, thì các vị lấy tiền đâu sẳng mà để cho bà con rút? Hay tới lúc đó rùi tính?

  • Hưng

    22:48 (GMT+7) - Chủ Nhật, 15/8/2010

    Tôi không đồng tình với bác H.Anh.

    Không biết bác có hoạt động bên lĩnh vực ngân hàng không nữa, bác nói đồng tình là đồng tình như thế nào. Không phải vô cớ khi các ngân hàng và tổ chức tài chính cùng lên tiếng nói về vấn đề này.

    Trong cùng 1 năm các NH phải vừa hoàn thành đủ chỉ tiêu 3000 tỷ, nâng hệ số H3 len 9% thì không hiểu sức ép đến nguồn vốn như thế nào, trong khi hệ số rủi ro cho sản phẩm đầu tư chứng khoán nâng lên 250% là rất cao.

    Nên xem xét kỹ hơn cho thông tư 13. Không phải là o ép bảo hộ cho các NH nhỏ, xét nghĩ cần có sự ngồi họp lại với nhau giữa toàn NH.

  • Hoàng Sơn Nam

    22:05 (GMT+7) - Chủ Nhật, 15/8/2010

    Hoan nghênh thông tư 13.

    Trong thời buổi hậu khủng hoảng, cần rất thận trong khi vay và cho vay.

    Vừa qua ở châu Âu cũng đã phải kiểm soát tín nhiệm qua cuộc điều tra của họ tuy nhiên vẫn bị chỉ trích với mức tiêu chuẩn còn thấp so với yêu cầu thực tế, thêm vào đó Fitch cũng vừa hạ mức tín nhiệm nợ của Việt Nam.

    Hai lý do đó quá đủ để thông tư 13 nên được áp dụng. Hy vọng chuẩn đặt ra có ý nghĩa với thực tế.

  • Minh Nguyệt

    10:25 (GMT+7) - Chủ Nhật, 15/8/2010

    Tôi ủng hộ quan điểm của Thống đốc.

    Hệ thống ngân hàng Việt Nam cần phải có những tiêu chuẩn khắt khe hơn để hoà nhập được với môi trường cạnh tranh toàn cầu.

  • Tanghoathien

    09:00 (GMT+7) - Chủ Nhật, 15/8/2010

    Quả thật nằm trong chăn mới biết chăn có rận.

    Nếu chỉ nhìn góp ý của các NHTM đối với Thông Tư 13 thì nghĩ NHNN quá khắt khe. Nhưng nghe được phỏng vấn của Thống Đốc mới thấy hệ thống ngân hàng thương mại của chúng ta như thế nào?

    Tôi ủng hộ ý kiến của Thống đốc, phải siết chặt lại. Phải làm ăn chuẩn mực thì mới lâu dài bền vững được. Ko vì lợi ích trước mắt mà ảnh hưởng lơi ích toàn cục của nền kinh tế.

  • Nguyễn Quang Huy

    08:54 (GMT+7) - Chủ Nhật, 15/8/2010

    Thống đốc Nguyễn Văn Giàu là người có khả năng, từ khi ông lên nắm giữ chức thống đốc đã thực hiện nhiều chính sách thay đổi, đổi mới, cải tiến họat động ngân hàng.

    Các chính sách của ông luôn đúng, chính xác, khiến người dân đặt nhiều niềm tin vào ông. Việc các ngân hàng bị đụng chạm đến lợi ích nên chống đối là bình thường, điều quan trọng là lợi ích tòan cục như thế nào?

  • Dân Nguyện

    07:12 (GMT+7) - Chủ Nhật, 15/8/2010

    TT13 đã bị một số cá nhân, tổ chức lợi dụng làm ngáo ộp để ép thị trường và dọa người yếu bóng vía và trục lợi.

    Thực tế khối CTCK đang thừa tiền phải hạ lãi xuất để câu khách , đa phần các ngân hàng đangvượt hệ số an toàn tín dụng trên 9% điển hình SHB còn vượt trên 30%.

    Hãy cảnh giác...

  • VN_BUFFET

    06:01 (GMT+7) - Chủ Nhật, 15/8/2010

    Chắc chắn một điều là khi Thông tư 13 bắt đầu có hiệu lực thì các ngân hàng sẽ khó khăn về nguồn vốn, thanh khoản... dẫn đến lợi nhuận sụt giảm.

    Tuy nhiên để Việt Nam có một hệ thống ngân hàng vững chắc thì Thông tư 13 là điều không thể không làm. Cũng như sắp tới đây là quy định ngân hàng thương mại bắt buộc phải đạt vốn tối thiểu 3.000 tỷ đồng trước ngày 31/12/2010.

    Những rủi ro: kém thanh khoản, làm giá tiền gửi, ép giá lãi suất liên ngân hàng... cần phải từng bước dần loại bỏ khỏi hệ thống ngân hàng.

    Thông tư 13 đã góp phần làm trong sáng hệ thống NH.

  • Nguyễn Hoàng Anh

    23:38 (GMT+7) - Thứ Bảy, 14/8/2010

    Tôi rất đồng tình với Thống đốc Giàu.

    Tại sao lại sợ Thông tư 13 cơ chứ? Anh chỉ nghĩ đến việc lợi cho anh, còn khi rủi ro tới thì người gửi tiền lãnh đủ đúng không?

    Hoan nghênh Thông tư 13 và mong chuẩn cao hơn nữa.

  • Nguyen Ngoc

    22:39 (GMT+7) - Thứ Bảy, 14/8/2010

    Việt Nam là một nước mới nổi, hệ thống tài chính còn non trẻ. Xưa nay chúng ta vừa làm, vừa sửa để hoàn thiện, có những lúc phải rơi vào tình trạng “thực hiện giải pháp tình thế” mà không có tầm nhìn dài hạn và theo chuẩn mực của quốc tế.

    Thiết nghĩ, đến lúc cần có hành lang pháp lý đủ mạnh và vững chắc giúp các tổ chức tín dụng hoạt động ổn định, như vậy mới có được kênh huy động và phân phối vốn hiệu quả, giúp nền kinh tế phát triển bền vững.

Gõ Telex   Gõ VNI

(Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu. VnEconomy xin chân thành cảm ơn bạn!)

Họ và tên bạn: Tên của bạn
Địa chỉ e-mail: Email của bạn
Nội dung của bạn
Tài chính

pvd

09:50 (GMT+7) - Thứ Bảy, 26/5/2012

Một là: “Các loại vàng miếng bao gồm SJC và các nhãn hiệu khác đã được cấp phép sản xuất trước đây thuộc quyền sở hữu...

Trong bài: Cho 6 tháng để chuyển đổi mua bán vàng miếng (1 ý kiến)

Shani

08:42 (GMT+7) - Thứ Bảy, 26/5/2012

Chẳng hiểu sao, các khoản vay cá nhân của tôi đến giờ vẫn đang chịu lãi suất 22,3%/năm. Khiếp quá... Các DN muốn vay lại...

Trong bài: Đồng loạt giảm các lãi suất điều hành (2 ý kiến)

Nguyễn Đức Thắng

22:14 (GMT+7) - Thứ Sáu, 25/5/2012

Nguyên nhân gốc rễ của việc rối loạn lãi suất những năm qua chủ yếu là do chính hệ thống ngân hàng gây ra. Điều...

Trong bài: Thống đốc Nguyễn Văn Bình: Xem xét lại lãi suất cơ bản (6 ý kiến)

Nguyễn Đức Thắng

21:15 (GMT+7) - Thứ Sáu, 25/5/2012

Việc thỏa thuận, mặc cả mua bán, thương thảo về giá giữa người mua, người bán đã là chuyện có từ ngàn năm ở chợ....

Trong bài: Đồng loạt giảm các lãi suất điều hành (2 ý kiến)

traihp

16:49 (GMT+7) - Thứ Sáu, 25/5/2012

Tôi không đồng ý với ý kiến của bạn Thanh Danh. Chúng ta ko thể cá mè 1 lứa được. Dù sao Vinalines cũng là...

Trong bài: Maritime Bank “né” dư chấn từ Vinalines (2 ý kiến)