VnEconomy > Tài chính 10:11 (GMT+7) - Chủ Nhật, 30/12/2012

Thống đốc và định hướng điều hành tiền tệ 2013

Chính sách về lãi suất, tỷ giá, xử lý nợ xấu, thị trường vàng... từ góc nhìn của Thống đốc Nguyễn Văn Bình...

Thống đốc và định hướng điều hành tiền tệ 2013

2012 là một năm nhiều thử thách đối với Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.

“Trong thời gian tới, khi hoạt động thị trường tiền tệ ổn định bền vững và điều kiện kinh tế vĩ mô cho phép, Ngân hàng Nhà nước sẽ xem xét dần tháo gỡ các biện pháp hành chính”, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình trả lời phỏng vấn VnEconomy về kết quả điều hành chính sách tiền tệ năm 2012 và định hướng cho năm 2013.

Có thời điểm dư luận đưa thông tin thiếu chính xác

Ở góc độ cá nhân, đâu là những điểm mà ông hài lòng và chưa hài lòng trong kết quả điều hành chính sách tiền tệ năm 2012?

Nhìn lại một năm qua, có thể thấy rằng điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước đã có những đóng góp quan trọng, giúp tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, lạm phát được kiềm chế, hỗ trợ tăng trưởng ở mức hợp lý. Trong đó, Ngân hàng Nhà nước đã thể hiện rõ nét được vai trò chủ động dẫn dắt và định hướng thị trường, ứng phó linh hoạt và kịp thời với những biến chuyển trên thị trường tiền tệ.

Chúng ta đặt mục tiêu hạ lãi suất và mặt bằng đã giảm từ 3 - 8%/năm so với cuối năm 2011, góp phần tháo gỡ khó khăn, giảm áp lực chi phí vay vốn của các doanh nghiệp và hộ dân, qua đó hỗ trợ tăng tổng cầu của nền kinh tế.

Thị trường ngoại hối và tỷ giá ổn định, lòng tin vào đồng Việt Nam và các giải pháp điều hành của Ngân hàng Nhà nước được củng cố, tình trạng đô la hóa từng bước giảm bớt, dự trữ ngoại hối tăng mạnh, góp phần tăng tiềm lực tài chính quốc gia.

Cơ chế mới về quản lý hoạt động kinh doanh vàng theo Nghị định 24 đã đạt được các mục tiêu định hướng đặt ra, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ ổn định thị trường ngoại hối và tỷ giá.

Thống đốc và định hướng điều hành tiền tệ 2013 1Mặc dù trong thời gian qua Ngân hàng Nhà nước đã tích cực tăng cường công tác truyền thông để định hướng dư luận và tạo lòng tin cho công chúng, tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế trong công tác này, có thời điểm xảy ra dư luận đưa thông tin thiếu chính xác nên công chúng hiểu chưa rõ về chủ trương, chính sách của Ngân hàng Nhà nước. Thống đốc Nguyễn Văn Bình

Thanh khoản của hệ thống ngân hàng được cải thiện, những tháng cuối năm 2011, nhiều tổ chức tín dụng khó khăn về thanh khoản nhưng Ngân hàng Nhà nước đã thành công trong việc giữ vững ổn định hệ thống, đến nay thanh khoản hệ thống cơ bản ổn định và cải thiện tích cực; quá trình tái cơ cấu các tổ chức tín dụng đã có những kết quả bước đầu.

Tuy nhiên, trong điều kiện chịu tác động từ diễn biến phức tạp của kinh tế thế giới và những khó khăn nội tại của nền kinh tế, điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước vẫn đối mặt với một số khó khăn.

Hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng về cơ bản an toàn nhưng nợ xấu gia tăng, là kết quả tích lũy của một thời gian dài trước đây. Tín dụng tăng trưởng thấp so với mục tiêu đề ra, chủ yếu là do các nhân tố bên cầu tín dụng ngoài lãi suất như sức cầu trong nước và cầu nước ngoài yếu; khả năng tiêu thụ sản phẩm khó khăn; hàng tồn kho tăng cao nên nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn, không đủ điều kiện vay vốn; tồn kho bất động sản khá lớn...

Điều đó cho thấy, để lưu thông dòng vốn tín dụng, cần có sự phối hợp đồng bộ các chính sách từ phía các bộ, ngành trong thời gian tới.

Ở một khía cạnh khác, tôi thấy rằng, mặc dù trong thời gian qua Ngân hàng Nhà nước đã tích cực tăng cường công tác truyền thông để định hướng dư luận và tạo lòng tin cho công chúng, tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế trong công tác này, có thời điểm xảy ra dư luận đưa thông tin thiếu chính xác nên công chúng hiểu chưa rõ về chủ trương, chính sách của Ngân hàng Nhà nước.

Sẽ gỡ
dần các biện pháp hành chính

Năm 2012, có thể nói Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện được mục tiêu kiềm chế lạm phát, giảm được lãi suất. Vậy xin hỏi Thống đốc, trong năm 2013, định hướng điều hành lãi suất và mức độ can thiệp của các biện pháp hành chính sẽ như thế nào?

Năm 2013, trên cơ sở mục tiêu của Quốc hội, Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước sẽ điều hành chính sách tiền tệ thận trọng, hiệu quả; sử dụng linh hoạt các công cụ của chính sách tiền tệ; gắn kết chặt chẽ với chính sách tài khóa theo mục tiêu kiềm chế lạm phát, tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm tăng trưởng hợp lý.

Theo đó, Ngân hàng Nhà nước điều hành lãi suất phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, mục tiêu kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý; đảm bảo thanh khoản và hoạt động của hệ thống tổ chức tín dụng và của nền kinh tế.

Về các biện pháp hành chính quản lý lãi suất, đây là những giải pháp mang tính chất tạm thời, áp dụng trong điều kiện thị trường tiền tệ và hoạt động ngân hàng chưa thật sự ổn định. Trong thời gian tới, khi hoạt động thị trường tiền tệ ổn định bền vững và điều kiện kinh tế vĩ mô cho phép, Ngân hàng Nhà nước sẽ xem xét dần tháo gỡ các biện pháp hành chính, tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng hoạt động hiệu quả, lành mạnh, phù hợp với cơ chế thị trường.

Thống đốc và định hướng điều hành tiền tệ 2013 2Cuối năm 2012, Ngân hàng Nhà nước đã trình Chính phủ đề án xử lý nợ xấu của hệ thống tổ chức tín dụng. Trong năm 2013, trọng tâm của Ngân hàng Nhà nước là triển khai thực hiện các giải pháp được Chính phủ thông qua tại đề án này. Thống đốc Nguyễn Văn Bình

Cuối năm 2011 và năm 2012, Thống đốc đã lần lượt đưa ra định hướng “giới hạn” biên độ của tỷ giá USD/VND và đã giữ vững. Với năm 2013, ông có thể đưa ra một “giới hạn” tương tự hay không?


Một dấu ấn khác biệt trong điều hành tỷ giá và thị trường ngoại hối trong giai đoạn gần đây là việc Ngân hàng Nhà nước chủ động đưa ra những cam kết mạnh mẽ về ổn định tỷ giá để thể hiện quyết tâm của cơ quan điều hành, ổn định tâm lý thị trường và định hình kỳ vọng về tỷ giá của công chúng. Cả hai lần cam kết về ổn định tỷ giá đều được thực hiện thành công.

Để có thành công này, khi đưa ra cam kết, chúng tôi đã có những phân tích kỹ lưỡng các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ giá VND/USD cũng như mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ nói riêng và chính sách vĩ mô nói chung.

Còn năm tới, tôi cũng lưu ý là bối cảnh và tình hình chung sẽ có những khác biệt so với năm 2012, có nhiều thử thách. Song định hướng chung là Ngân hàng Nhà nước tiếp tục giữ ổn định tỷ giá, điều hành có sự linh hoạt, phù hợp với diễn biến thị trường và tình hình cung cầu ngoại tệ, góp phần nâng cao tính cạnh tranh của hàng hóa trong nước, khuyến khích xuất khẩu, giảm nhập siêu, tiếp tục cải thiện cán cân thanh toán quốc tế và tăng dự trữ ngoại hối nhà nước, giữ ổn định giá trị đồng Việt Nam, hỗ trợ phát triển bền vững và chống đô la hóa nền kinh tế.

Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục triển khai các giải pháp khắc phục căn bản tình trạng đô la hóa nền kinh tế, cũng như tập trung nguồn ngoại tệ vào hệ thống tổ chức tín dụng để tạo điều kiện đáp ứng tốt nhu cầu ngoại tệ hợp pháp, hợp lý của nền kinh tế để hỗ trợ công tác điều hành tỷ giá.

Xử lý nợ xấu, chống “vàng hóa”


Một khó khăn nổi bật trong năm 2012 là nợ xấu tăng cao. Vậy năm 2013 Ngân hàng Nhà nước sẽ tập trung xử lý như thế nào, thưa Thống đốc?


Cuối năm 2012, Ngân hàng Nhà nước đã trình Chính phủ đề án xử lý nợ xấu của hệ thống tổ chức tín dụng. Trong năm 2013, trọng tâm của Ngân hàng Nhà nước là triển khai thực hiện các giải pháp được Chính phủ thông qua tại đề án này.

Có thể kể đến các giải pháp lớn như: thành lập công ty quản lý tài sản Việt Nam để xử lý tập trung nợ xấu; triển khai sửa đổi, bổ sung các quy định về mua trái phiếu doanh nghiệp, cấp tín dụng; xây dựng quy định mới về phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro theo hướng chặt chẽ hơn và mở rộng phạm vi tài sản có tiềm ẩn rủi ro tín dụng phải phân loại và trích lập dự phòng để phản ánh đầy đủ hơn thực trạng nợ xấu và hạn chế nợ xấu gia tăng; sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định an toàn trong hoạt động ngân hàng; tăng cường công tác thanh tra giám sát trong việc thực hiện các quy định về cấp tín dụng, an toàn hoạt động và phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro...

Các bộ, ngành cũng sẽ triển khai đồng bộ và quyết liệt các giải pháp nhằm xử lý hàng tồn kho; phát triển thị trường bất động sản; sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định về bán, xử lý tài sản bảo đảm tiền vay để giúp ngân hàng xử lý tài sản đảm bảo, nhanh chóng thu hồi nợ.

Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục đôn đốc các tổ chức tín dụng tích cực xử lý nợ xấu thông qua các biện pháp như đánh giá lại chất lượng và khả năng thu hồi của các khoản nợ để có biện pháp xử lý thích hợp, tăng cường trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu...

Thống đốc và định hướng điều hành tiền tệ 2013 3Trong thời gian tới, khi thị trường vàng đã hoạt động tương đối ổn định, dự kiến Ngân hàng Nhà nước sẽ tham gia với vai trò là người kiến tạo, mua bán cuối cùng để đảm bảo sự lưu thông của thị trường và tăng dự trữ ngoại hối nhà nước bằng vàng, phù hợp với mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. Thống đốc Nguyễn Văn Bình

Với thị trường vàng, Thống đốc nói gì về kết quả của chính sách quản lý năm qua? Một số thông tin gợi mở rằng Ngân hàng Nhà nước sẽ tham gia điều tiết thị trường…

Có thể khẳng định 2012 là năm đánh dấu sự thành công bước đầu của công tác quản lý thị trường vàng nói chung thông qua việc Ngân hàng Nhà nước đã từng bước hoàn thiện cơ sở pháp lý để quản lý thị trường vàng, chấm dứt hoạt động huy động và cho vay vốn bằng vàng vào ngày 25/11/2012.

Kết quả bước đầu sau khi Nghị định 24 được ban hành cho thấy với sự kết hợp của Nghị định 95 và các biện pháp Ngân hàng Nhà nước đã triển khai, thị trường vàng miếng trong nước có nhiều chuyển biến đáng kể so với trước kia.

Chúng ta thấy rằng, mặc dù giá vàng trong nước và thế giới biến động mạnh, nhưng không như thời gian trước đây, khoảng cách lớn giữa giá vàng trong nước và giá vàng thế giới không đi kèm với hiện tượng “sốt vàng”. Ngân hàng Nhà nước không cho phép nhập khẩu vàng, không thực hiện bình ổn giá nhưng hầu như không diễn ra việc thu gom ngoại tệ trên thị trường tự do để nhập lậu, nhờ đó tỷ giá và thị trường ngoại tệ ổn định, không bị tác động tiêu cực bởi sự biến động của giá vàng.

Sau khi chấm dứt hoạt động huy động và cho vay vốn bằng vàng, thị trường vàng sẽ không còn hoạt động huy động vàng để cho vay vàng đầu tư hoặc chuyển đổi vàng huy động thành tiền, không được vay vốn mua vàng, chỉ còn quan hệ mua - bán vàng theo đúng chủ trương của Nhà nước về việc chống “vàng hóa” trong nền kinh tế, từ đó giảm nhu cầu cất trữ vàng và giảm tâm lý nắm giữ vàng trong dân, góp phần tăng nguồn cung vàng trên thị trường.
 
Trong thời gian tới, khi thị trường vàng đã hoạt động tương đối ổn định, dự kiến Ngân hàng Nhà nước sẽ tham gia với vai trò là người kiến tạo, mua bán cuối cùng để đảm bảo sự lưu thông của thị trường và tăng dự trữ ngoại hối nhà nước bằng vàng, phù hợp với mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. Đây là kênh chính để huy động nguồn lực vàng trong nền kinh tế nhằm mục tiêu chuyển hóa nguồn lực vàng, phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh và sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước.
  Bình luận (9)
Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết. Đang hiển thị 9/9 bình luận.
  • Bài báo tuy cũ nhưng khá hay. Có lẽ anh Phạm Quốc Hoàng nói không sai. Bây giờ đã qua năm 2013 rồi nợ xấu không lo bàn giải quyết chưa tới đâu mà người ta đi bàn chuyện phá giá tiền đồng nội tệ VND. Vinashin thì thiếu uy tín trì hoãn trả nợ quốc tế thì làm sao mà lấy lại uy tín trong con mắt giới đầu tư quốc tế được. Như vậy làm sao trái phiếu dài hạn của Việt Nam đến bao giờ ra khỏi mức rủi ro để vay tiền với lãi suất rẻ được?

    09:18 (GMT+7) - Thứ Sáu, 8/2/2013 Trả lời Thích
  • Tôi ủng hộ việc thành lập Công ty quản lý tài sản Việt Nam. Như thế sẽ khơi thông các ách tắc, giúp cho kinh tế phát triển tốt hơn.

    22:44 (GMT+7) - Thứ Tư, 2/1/2013 Trả lời Thích
  • Cách nhận định đánh giá của ông Phạm Quốc Hoàng hay gây nhiều tranh cãi và hay có cái nhìn bi quan về tình hình kinh tế Việt Nam, trái ngược sự nhận định của các chuyên gia kinh tế Việt Nam. Có lẽ ông nói đúng, những nước Âu Châu có trình độ phát triển cao mà giải quyết nợ xấu đã hơn 3 năm còn chưa xong thì Việt Nam cũng mất 5 năm cũng sẽ chưa xong.

    20:48 (GMT+7) - Thứ Tư, 2/1/2013 Trả lời Thích
  • Thưa bà Phùng Thị Bình. Tôi ngần ngại nêu ra con số nợ khó đòi ấy. Về khoản nợ xấu khó đòi của các ngân hàng tại Việt Nam mà bà đưa ra con số ước chừng 90 ngàn tỷ bạc VND. Quốc tế ước chừng 7 tỷ USD cho đến mấp mé 10 tỷ USD hay bao nhiêu thì vẫn chưa thể kiểm chứng chính xác.

    Trong vụ bể bóng gia cư địa ốc và lan sang lĩnh vực tài chính hiện nay tại Việt Nam theo cách tính lạc quan nhất núi nợ khó đòi và sẽ mất lại lên tới khoảng 10%. Còn theo tính toán bi quan nhất của tổ hợp lượng cấp trái phiếu là Fitch Ratings, thì ước lượng một con số cao gấp rưỡi là 15%, mấp mé 20 tỷ USD. Mà giới đầu tư chỉ tin vào Fitch.

    Về vấn đề xin trich lược một đoạn của VnEconomy “thành lập công ty quản lý tài sản Việt Nam để xử lý tập trung nợ xấu; triển khai sửa đổi, bổ sung các quy định về mua trái phiếu doanh nghiệp, cấp tín dụng,…”.

    Thế thì Việt Nam xếp trái phiếu theo tư cách pháp nhân của khách đi vay như thế nào, là của tư doanh, chính quyền địa phương, như tỉnh hay thị xã, hay chính quyền cấp quốc gia. Mà trái phiếu quốc gia do chính quyền trung ương phát hành, thì gọi là "công khố phiếu". Về thời hạn còn phân biệt từ ngắn đến dài là "notes", "bills" hay "bonds". Về đại lược, khi nói đến mức khả tín của công khố phiếu quốc gia thì người ta dùng chữ "sovereign".

    Trong loại trái phiếu dài hạn "sovereign" của Việt Nam được xếp từ chữ A trở lên, hay từ 2 chữ B đi xuống. Nếu từ chữ A trở lên AAA thì có giá trị như khí cụ đầu tư đáng tin và ít rủi ro thì vấn đề bơm tiền phát hành trái phiếu rất dễ vay và trả lãi nhẹ, hoặc kém lắm là BBB trở lên.

    Thành phần thiếu uy tín thì gọi là "junk bond", hay "giấy lộn", từ 2 chữ B xuống tới chữ D là khi vỡ nợ hoặc có nguy cơ phá sản rất khó vay tiền, khi mà các doanh nghiệp cấp quốc gia và cả hệ thống ngân hàng Việt Nam bị Moody's, và Fitch, xếp hạng tuột khỏi khí cụ đầu tư đáng tin cậy.

    Thế thì Việt Nam lấy tiền ở đâu ra để đắp vốn cho việc cấp cứu đó. Hay bơm tiền bằng cách mua lại khoản nợ thế chấp của các ngân hàng tài trợ đó, rồi gói các khoản nợ này thành chứng phiếu bán lại trên thị trường để lấy lời. Vậy thì ai mua. Nó chẳng đơn giản như bà Phùng Thị Bình nghĩ.

    13:37 (GMT+7) - Thứ Tư, 2/1/2013 Trả lời Thích 3 người thích bình luận này
  • Tôi hoàn toàn đồng tình với bài phản biện của Phạm Quốc Hoàng. Đúng như ông Hoàng nói "Vấn đề là việc thành lập ra một cơ quan quản lý nợ như vậy lại không dễ như người ta tưởng,..".

    Dù đó là bước tiến chậm trong giải quyết nợ xấu nhưng bền vững hơn là cứ nói mà không làm.

    13:01 (GMT+7) - Thứ Ba, 1/1/2013 Trả lời Thích 2 người thích bình luận này
  • Tôi động viên và rất hy vọng ở Thống đốc Nguyễn Văn Bình. Ông là người giỏi về chính sách điều hành tiền tệ.

    17:51 (GMT+7) - Thứ Hai, 31/12/2012 Trả lời Thích 1 người thích bình luận này
  • "Như vậy trong việc tái cấu trúc này tất nhiên là phải lập ra “công ty quản lý nợ”, của Nhà nước, tức là bơm tiền ra mua lại các khoản nợ xấu và tất nhiên Nhà nước phải chịu một khoản lỗ để ngân hàng có sổ sách kế toán tương đối minh bạch.

    Thế thì trong bối cảnh đó, ngân sách của Nhà nước sẽ mất bao nhiêu tiền để gánh một phần của nợ xấu đó? Đó là một lỗ hổng quá lớn cho ngân sách công quỹ khi mà giỏ ngoại tệ dự trữ của Việt Nam chỉ vừa đủ ở mức nâng cho 3 tháng nhập khẩu", bạn Phạm Quốc Hoàng nói vậy là không đúng rồi.

    Hai đề án (xử lý tổng thể nợ xấu của nền kinh tế" và thành lập VAMC) thì không đề cập tới một nguồn nào từ ngân sách cả, ngoại trừ các khoản nợ mà ngân hàng đã ứng trước cho các công trình của nhà nước nhưng ngân sách chưa trả thì phải thanh toán, số này ước 90 nghìn tỷ đồng.

    Phần còn lại nguồn tiền để xử lý hoàn toàn là nguồn tiền nghiệp vụ của ngân hàng trung ương. Bạn lẫn lộn giữa tiền nghiệp vụ của Ngân hàng TW và tiền ngân sách. Đấy là sự nhẫm lần tai hại. Và ngay cả sử dụng phần tiền mềm nghiệp vụ này cũng không phải cho không mà là cho các NHTM vay qua đường tái cấp vốn, sau đó NHTM phải dùng trích lập dự phòng và lợi nhuận, kể cả bán các tài sản xấu đã cho ra ngoại bảng để trả dần bạn ạ.

    Ở đời không ai cho không ai cái gì, hoạt động kinh tế cũng vậy. Làm mất tiền thì phải bù vào để trả, chỉ có điều là NHTW có tính lãi khoản tái cấp vốn này hay không và mức nào. Chúc bạn khỏe.

    15:17 (GMT+7) - Thứ Hai, 31/12/2012 Trả lời Thích 2 người thích bình luận này
  • Xin nêu lại lời hứa và phát biểu của Thống Đốc: "Giá vàng trong nước cao hơn thế giới 400 ngàn/ lượng là có dấu hiệu đầu cơ". Không bình ổn giá vàng mặc dù trong nước cao hơn thế giới 5 triệu/lượng.

    09:30 (GMT+7) - Thứ Hai, 31/12/2012 Trả lời Thích 6 người thích bình luận này
  • Nếu nhìn ra bên ngoài nhiều quốc gia EU có trình độ tổ chức và nghiệp vụ chuyên môn cao hơn Việt Nam đã mất cả hơn 3 năm giải quyết nợ xấu mà chưa xong.

    Chẳng hạn như Hy Lạp một quốc gia chỉ có mấp mé 11 triệu dân, tổng sản lượng chừng hơn 300 tỷ USD lại gây chấn động cho khối Euro gồm 16 nước với sản lượng là ước chừng 11.000 tỷ USD, và cho cả Liên hiệp Âu châu gồm 27 nước với dân số 500 triệu và sản lượng 16.000 tỷ USD, mà có cả IMF can thiệp.

    Đối chiếu những yêu cầu đó thì chẳng có lý do gì để người ta tin rằng ngài Thống đốc sẽ giải quyết nợ xấu đó mau chóng và nhanh hơn các nước EU này.

    Nếu như dự kiến, trong năm 2013, Việt Nam phải tái cấu trúc lại hệ thống ngân hàng để kịp thời cứu các doanh nghiệp hiện không thể tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng trong khi nhiều ngân hàng lại đang bị chìm dưới núi nợ xấu.

    Như vậy trong việc tái cấu trúc này tất nhiên là phải lập ra “công ty quản lý nợ”, của Nhà nước, tức là bơm tiền ra mua lại các khoản nợ xấu và tất nhiên Nhà nước phải chịu một khoản lỗ để ngân hàng có sổ sách kế toán tương đối minh bạch.
    Thế thì trong bối cảnh đó, ngân sách của Nhà nước sẽ mất bao nhiêu tiền để gánh một phần của núi nợ xấu đó? Đó là một lỗ hổng quá lớn cho ngân sách công quỹ khi mà giỏ ngoại tệ dự trữ của Việt Nam chỉ vừa đủ ở mức nâng cho 3 tháng nhập khẩu.

    Vấn đề là việc thành lập ra một cơ quan quản lý nợ như vậy lại không dễ như người ta tưởng, và đòi hỏi nhiều điều kiện về tổ chức, pháp lý và nghiệp vụ. Cụ thể là Nhà nước lấy tiền ở đâu ra để mua núi nợ xấu đó, và do ai quản lý và quyết định theo tiêu chuẩn mực nào để không gây thêm lợi ích nhóm, hay tham nhũng?

    Căn cứ vào đâu để sớm hoàn tất những việc này để kịp thời cấp cứu các ngân hàng trước khi tình hình sa sút trong năm 2013 chưa mấy sáng sủa?

    07:59 (GMT+7) - Thứ Hai, 31/12/2012 Trả lời Thích 27 người thích bình luận này
Bình luận của bạn
Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu.
Gõ Telex Gõ VNI
Chọn hình đại diện cho bình luận của bạn?