
Từ trong tháng 4 đến ròng rã gần suốt tháng 5/2018, nhà đầu tư nước ngoài liên tục bán ròng quy mô khá lớn trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Diễn biến này gây quan ngại nhất định trong tâm lý nhà đầu tư, gắn với tình huống vốn ngoại có đảo chiều hay không?
Trả lời VnEconomy về tình huống này, một lãnh đạo chuyên trách ở kênh giám sát cao nhất, trực tiếp nhất của Chính phủ khẳng định: hiện chưa có biểu hiện nào cho thấy vốn ngoại đảo chiều.
Theo ông, cần nhận định rõ giữa việc nhà đầu tư nước ngoài bán ròng trên thị trường chứng khoán với việc dòng vốn đảo chiều rút ra khỏi Việt Nam là hai việc khác nhau.
Nếu có biểu hiện vốn ngoại đảo chiều, tỷ giá rất nhạy và sẽ phản ánh ngay, vị lãnh đạo trên cho biết.
Tuy nhiên, suốt từ đầu năm 2018 đến nay, tỷ giá USD/VND rất ổn định. Ở kênh giám sát trên, mức dự tính biến động của tỷ giá nửa đầu năm nay cũng chỉ quanh khoảng 0,5% so với cuối 2017.
Thậm chí suốt thời gian qua Ngân hàng Nhà nước phải liên tục điều tiết, mua vào ngoại tệ cũng như cân đối nguồn tiền đối ứng, trong mục tiêu giữ ổn định tỷ giá, thanh khoản hệ thống và kiểm soát tốc độ của lạm phát.
Tỷ giá USD/VND ổn định, cùng với quy mô dự trữ ngoại hối quốc gia liên tục tăng lên hơn 63,5 tỷ USD là những yếu tố góp phần thu hút vốn đầu tư nước ngoài, cũng như là các cơ sở chính yếu để hãng xếp hạng tín nhiệm quốc tế Fitch nâng hạng tín nhiệm của Việt Nam vào trung tuần tháng 5 vừa qua.
Chia sẻ ở góc nhìn cá nhân, vị lãnh đạo chuyên trách trên cho rằng, diễn biến bán ròng của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam là bình thường.
Bởi không có hoạt động nào mua vào mãi, không có giá chứng khoán nào cứ tăng mãi. Ngược lại, nhà đầu tư nước ngoài cũng cần cụ thể hóa lợi nhuận, cơ cấu lại nguồn vốn.
"Có vốn ra thì có vốn vào, rất bình thường. Đó là vốn của họ, không phải của mình. Họ cơ cấu vốn hoặc điều chỉnh các kế hoạch đầu tư tại các thị trường cũng là bình thường. Trong bối cảnh Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) có thể tiếp tục tăng lãi suất, hay lợi suất trái phiếu Mỹ tăng lên cũng vậy. Vấn đề là cơ hội đầu tư và triển vọng giá trị đầu tư của họ trong tương lai tại Việt Nam lớn hơn thì sao", vị lãnh đạo trên nêu quan điểm.
Với khả năng FED tiếp tục tăng lãi suất vào trung tuần tháng 6 tới, cùng lợi suất trái phiếu Mỹ tăng lên, điều này đã được thấy trước và dự báo trước. Trong khi đó Việt Nam vẫn duy trì một mức chênh lệch lãi suất hấp dẫn, cũng như có nhiều dư địa để ổn định tỷ giá.
Ngược lại, Việt Nam đang có lợi thế tạo cơ hội đầu tư, gắn với kinh tế vĩ mô ổn định và tăng trưởng tốt trong khu vực; chính trị ổn định, cùng thị trường tài chính, chính sách tiền tệ ổn định.
"Tất nhiên chúng ta cũng không quá say sưa với dự trữ ngoại hối tăng cao, với vốn đầu tư nước ngoài vào mạnh. Bao giờ nền kinh tế ta thặng dư mạnh và bền vững từ xuất khẩu, xuất siêu, kiều hối, cùng nội lực của dân cư và doanh nghiệp, thì đó mới là tiềm lực chắc chắn", vị lãnh đạo trên nêu quan điểm.
Liên quan đến nhận định cơ hội đầu tư ở Việt Nam, trao đổi với VnEconomy tuần qua, ông Nguyễn Lê Quốc Anh, Tổng giám đốc Ngân hàng Kỹ thương (Techcombank) nêu một tham khảo đáng chú ý.
Trong đợt chào bán cổ phiếu vừa qua, qua tiếp xúc, một số quỹ đầu tư hàng đầu và khắt khe của Mỹ cho biết, họ thấy rằng cơ hội đầu tư vào những doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng lợi nhuận, khả năng sinh lời như Techcombank không nhiều. Nhưng vấn đề là các doanh nghiệp Việt Nam phải minh bạch, đáp ứng được các chuẩn mực báo cáo tài chính khắt khe.
Như tại Techcombank, để chào bán thành công và đáp ứng được các tiêu chuẩn của thị trường Mỹ, phải mất tới ba năm (2015 - 2017) tập trung xây dựng và hoàn thiện được báo cáo tài chính theo những chuẩn mực đó.
Cùng với Techcombank, trong 2017 và nối tiếp nửa đầu 2018, một loạt doanh nghiệp lớn của Việt Nam cũng đã tạo được các đợt chào bán lớn và thành công, thu hút mạnh nguồn vốn của nhà đầu tư nước ngoài.
Trao đổi quan điểm với VnEconomy, TS. Trịnh Quang Anh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu kinh tế Maritime Bank cũng nêu quan điểm: Việt Nam cần chú trọng vốn đầu tư nước ngoài trung dài hạn, với kế hoạch đầu tư gắn bó lâu dài; còn vốn nóng và ngắn hạn vào ra trên thị trường cũng là bình thường.
Như trên, với vốn nóng và ngắn hạn, nếu có gắn với diễn biến bán ròng của nhà đầu tư nước ngoài trên sàn chứng khoán trong hơn một tháng qua, thì hiện ở cấp giám sát cao nhất và trực tiếp nhất cho thấy vẫn chưa có biểu hiện rút ra hoặc đảo chiều.
Một số công ty chứng khoán đã công bố kết quả kinh doanh. Điểm đáng chú ý là dư nợ ký quỹ trong quý 2/2026 tiếp tục tăng so với quý 1. Điều này tạo áp lực tâm lý lên thị trường khi tỷ lệ ký quỹ đang ở mức cao...
Nhà đầu tư tổ chức trong nước hôm nay mua ròng 358,3 tỷ đồng. Tính riêng giao dịch khớp lệnh, khối này mua ròng 168,8 tỷ đồng.
Định giá P/E dự phóng năm 2026 ở mức 11,7x nhưng nhiều ngành đang được giao dịch ở mức thấp hơn đáng kể. Đây cũng là vùng thấp nhất về định giá, tương đương các đợt sụt giảm mạnh từng xuất hiện vào các năm 2020, 2022 và 2025...
Thêm một nhịp “dúi” chỉ số nữa xuất hiện sáng nay, thậm chí VNI có lúc xuống dưới đáy tháng 6/2026. Thanh khoản thấp ở nhịp giảm là một tín hiệu tốt, cho thấy đợt bán dữ dội nhất đã vãn.
Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (HOSE) vừa quyết định đưa cổ phiếu HVN của Tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines) ra khỏi diện hạn chế giao dịch kể từ ngày 14/7, sau khi hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp có nhiều chuyển biến tích cực...
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Bức tranh tổng thể kinh tế năm 2026 cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ rệt giữa khu vực Doanh nghiệp và Kinh tế cá thể. Ở khu vực Doanh nghiệp tăng trưởng nhanh về số lượng, thu hút và phát triển lực lượng lao động lớn thì ở khu vực Kinh tế cá thể tốc độ tăng quy mô lại có xu hướng chậm lại, tỷ trọng lao động có sự dịch chuyển.