Nghị quyết 45 của Bộ Chính trị đã khẳng định, Hải Phòng là thành phố cảng, đầu mối giao thông quan trọng và là cửa chính ra biển của các tỉnh phía Bắc.
Phấn đấu đến năm 2030, Hải Phòng trở thành thành phố công nghiệp phát triển hiện đại, thông minh, bền vững tầm cỡ khu vực Đông Nam Á; trung tâm dịch vụ logistics quốc tế hiện đại bằng cả đường biển, đường hàng không, đường bộ cao tốc, đường sắt tốc độ cao...
Nhân hội nghị: "Phát triển dịch vụ logistics tại Hải Phòng - nâng cao năng lực cạnh tranh và đẩy mạnh liên kết vùng", Thời báo Kinh tế Việt Nam có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Văn Tùng - Chủ tịch UBND Tp.Hải Phòng xung quanh lộ trình hiện thực hóa mục tiêu, Hải Phòng trở thành trung tâm dịch vụ logistics quốc tế.
Ngành logistics có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế- xã hội của Hải Phòng, vậy đâu là những điều kiện, nền tảng để Hải Phòng trở thành trung tâm logistics của cả nước, thưa ông?
Hải Phòng đã được Trung ương xác định là cửa ngõ của khu vực phía Bắc và cả nước, thông thương với các nước trong khu vực và thế giới. Hàng năm, lưu lượng hàng hóa thông qua đây luôn tăng trưởng ở mức cao, năm 2018, sản lượng hàng hoá thông qua cảng biển Hải Phòng ước đạt 109 triệu tấn (tăng 18,44%).
Trong giai đoạn 2011-2017, tốc độ tăng trưởng của logistics ước đạt 18%÷23%/năm; tỷ trọng đóng góp vào GRDP của thành phố từ 10%÷15%.
Bên cạnh lợi thế về địa kinh tế, địa chính trị thì Hải Phòng còn có hệ thống hạ tầng giao thông được kết nối liên hoàn và khá đồng bộ như Cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng, Cảng hàng không quốc tế Cát Bi được kết nối thuận tiện với đường ôtô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, với hệ thống đường sắt quốc gia và với hệ thống giao thông đường thủy nội địa; cùng với đó là hệ thống dịch vụ hậu cần sau cảng được đầu tư khá bài bản như bãi container, kho ngoại quan, kho CFS và lực lượng các loại hình vận tải đa phương thức rất phong phú.
Theo quy hoạch phát triển Hành lang kinh tế Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh đến năm 2020, Hải Phòng được xác định là đầu mối giao thông quan trọng kết nối với các tỉnh phía Bắc Việt Nam và Vân Nam, Quảng Tây (Trung Quốc); một trọng điểm phát triển kinh tế biển; một trung tâm dịch vụ hàng hải và vận tải biển lớn của tuyến hành lang và của cả Việt Nam.
Vậy theo ông, những thách thức, rào cản nào ngành logistics Hải Phòng đang và sẽ phải đối mặt?
Trong "chuỗi" hoạt động logistics, thì Hải Phòng hiện vẫn chỉ thực hiện ở những công đoạn thô, chủ yếu là bốc xếp, kho bãi và vận chuyển đường bộ, nguồn thu từ những công đoạn này thấp, ít tạo giá trị gia tăng. Hệ thống các doanh nghiệp như cảng, kho bãi, vận tải còn nhỏ lẻ, hoạt động manh mún, tự phát, chưa tìm được tiếng nói chung dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh, giảm hiệu quả tổng thể.
Một phần do Hải Phòng chưa có những trung tâm logistics đủ lớn về qui mô, về tầm ảnh hưởng với các hãng tàu, các nhà sản xuất, xuất nhập khẩu, nên mới dừng lại ở mức thu gom hàng thuê cho các hãng nước ngoài; một phần nữa là do chưa có những đội tàu vận tải biển quốc tế đủ mạnh, nguồn nhân lực cung cấp cho logistics còn thiếu và yếu...
Vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ vẫn là chủ yếu (chiếm trên 80% khối lượng hàng hóa) dẫn đến chi phí cao, tiềm ẩn ùn tắc giao thông và tác động xấu đến môi trường. Những loại hình vận tải chi phí thấp như đường sắt, đường thủy nội địa chưa phát huy được.
Để trở thành trung tâm dịch vụ logistics của miền Bắc và khu vực, thành phố Hải Phòng đã chuẩn bị những gì để tiến đến mục tiêu này?
Xác định đây là nhiệm vụ quan trọng, là nền tảng cho sự phát triển bền vững của thành phố, toàn bộ hệ thống chính trị và nhân dân thành phố đều quyết tâm, nỗ lực để sớm hiện thực hóa mục tiêu đề ra.
Ngày 14/3/2019, UBND thành phố đã chính thức phê duyệt Quy hoạch phát triển hệ thống dịch vụ logistics thành phố Hải Phòng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; trong đó, quy hoạch 1 trung tâm logistics cấp vùng (Nam Đình Vũ), 4 trung tâm logistics cấp tỉnh (Lạch Huyện, VSIP, Tràng Duệ, Tiên Lãng) và 1 trung tâm logistics chuyên dùng hàng không tại sân bay Cát Bi.
Bên cạnh đó, tiếp tục đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông, kết nối hạ tầng cảng biển như cải tạo, nâng cấp đường 356 trên địa bàn huyện Cát Hải; cải tạo, nâng cấp tuyến đường xuyên đảo Cát Bà; đầu tư cầu Tân Vũ - Lạch Huyện 2, đẩy nhanh tiến độ tuyến đường bộ ven biển, mở rộng sân bay Cát Bi.
Xây dựng cơ chế, chính sách nhằm thu hút các nguồn lực trong xã hội để đầu tư vào hạ tầng giao thông, vào các lĩnh vực trong "chuỗi" logistics theo mô hình hợp tác công - tư, chủ động đề xuất Trung ương sớm xây dựng tuyến đường sắt qui chuẩn kết nối các cảng tới Hà Nội và ra quốc tế...
Trong 3 tháng cuối năm, Bộ Xây dựng sẽ tiếp tục theo dõi sát diễn biến thị trường bất động sản; kịp thời nghiên cứu, đề xuất các giải pháp ổn định thị trường, thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển lành mạnh, bền vững; Đồng thời, tiếp tục rà soát, tháo gỡ vướng mắc cho các dự án giao thông, bảo đảm tiến độ các công trình, dự án trọng điểm…
Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu tập trung nguồn lực đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên những nhiệm vụ thiết yếu tác động trực tiếp đến đời sống người dân; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình, không để gián đoạn chính sách và quyền lợi của người dân khi triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2035.
Chuyến thăm chính thức Trung Quốc của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đã thành công tốt đẹp, góp phần củng cố tin cậy chính trị, tăng cường hợp tác giữa hai cơ quan lập pháp, tạo động lực mới đưa quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất, hiệu quả.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị Đại học Bách khoa Hà Nội phát triển thành đại học nghiên cứu xuất sắc, tạo đột phá trong đào tạo nhân tài, làm chủ công nghệ chiến lược, gắn nghiên cứu với sản xuất và đảm nhận những nhiệm vụ lớn của quốc gia.
Tại buổi tiếp Thủ hiến Hamburg (Đức) Peter Tschentscher, Thủ tướng Lê Minh Hưng đề nghị tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực cảng biển, logistics, kinh tế biển, chuyển đổi xanh và năng lượng tái tạo; đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam mở rộng thị trường, tận dụng hiệu quả Hiệp định EVFTA.
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Theo các chuyên gia, thay vì cạnh tranh bằng ưu đãi thuế hoặc chi phí lao động giá rẻ, Việt Nam cần chuyển hướng cạnh tranh bằng chất lượng hạ tầng đô thị, dịch vụ công và môi trường sống thân thiện.