
Kết hôn có yếu tố nước ngoài đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam vẫn có xu hướng tăng, Uỷ ban Đối ngoại của Quốc hội cho biết kết quả giám sát.
Kết quả giám sát chuyên đề "Việc thực hiện chính sách, pháp luật trong công tác quản lý người nước ngoài tại Việt Nam" vừa được Uỷ ban Đối ngoại gửi đến các vị đại biểu Quốc hội.
Không nắm được hết các trường hợp kết hôn ở nước ngoài
Trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình, cơ quan giám sát đánh giá, hiện nay việc kết hôn có yếu tố nước ngoài được điều chỉnh bởi quy định của Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình (về điều kiện kết hôn), Luật Hộ tịch. Pháp luật về đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài nói chung, kết hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng về cơ bản bảo đảm tính thống nhất, hiệu lực pháp lý cao, đáp ứng được yêu cầu thực tiễn và yêu cầu đơn giản hóa, cải cách hành chính.
Theo số liệu thống kê của Bộ Tư pháp, số trường hợp kết hôn có yếu tố nước ngoài đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam vẫn có xu hướng tăng. Trong đó, số cặp kết hôn năm 2018 giữa công dân Việt Nam với công dân Đài Loan (Trung Quốc) 4.498 cặp, Hoa Kỳ 4.193 cặp và Hàn Quốc 2.666 cặp, chiếm tỉ lệ cao nhất trong số các cặp kết hôn có yếu tố nước ngoài.
Ngoài các nước trên, người Việt Nam còn kết hôn với người Canada (2018 là 515 trường hợp), quốc gia/vùng lãnh thổ khác là 3.543 trường hợp.
Về cơ chế quản lý kết hôn có yếu tố nước ngoài, cơ quan giám sát đánh giá, hiện nay, các cơ quan đăng ký, quản lý hộ tịch Việt Nam chỉ nắm được số cặp kết hôn giữa người nước ngoài đăng ký kết hôn với công dân Việt Nam ở Việt Nam.
Đối với các cặp đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thì chỉ có thông tin về việc đăng ký kết hôn khi các cô dâu có yêu cầu ghi vào sổ hộ tịch việc kết hôn đã giải quyết ở nước ngoài (ghi chú kết hôn), nhiều trường hợp kết hôn ở nước ngoài nhưng đương sự không về Việt Nam ghi chú kết hôn hoặc đương sự có về Việt Nam mà không yêu cầu ghi chú thì cơ quan đăng ký hộ tịch cũng không quản lý được.
9 năm 3.291 trẻ em Việt Nam làm con nuôi người nước ngoài
Về nuôi con nuôi, cơ quan giám sát cho biết, từ khi Luật Nuôi con nuôi có hiệu lực thi hành đến nay, qua báo cáo của Bộ Tư pháp, số lượng trẻ em được giải quyết cho làm con nuôi nước ngoài là 3.291 trẻ em.
Trong đó số trẻ em làm con nuôi lần lượt từ năm 2011 - 2018 là 66 - 298 - 334 - 498 - 575 - 551 - 539 và đến năm 2018 là 430 trẻ em.
Kết quả giám sát cũng cho thấy, số lượng hồ sơ người nước ngoài là người đang làm việc, học tập ở Việt Nam trong thời gian ít nhất là 1 năm nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi từ 2011-2018 là 57 trường hợp, chủ yếu là công dân quốc tịch Anh, Úc đang làm việc, học tập tại Việt Nam.
Theo cơ quan giám sát, lĩnh vực này còn một số vướng mắc, như Luật Nuôi con nuôi chưa quy định về chấm dứt việc nuôi con nuôi, không quy định chấm dứt việc nuôi con nuôi trong trường hợp con nuôi chưa thành niên, cha mẹ nuôi chết hoặc không còn đủ điều kiện nuôi dưỡng, người nhận con nuôi và cha mẹ đẻ của trẻ đều có nguyện vọng chấm dứt việc nuôi con.
Ngoài ra luật cũng không quy định cụ thể về điều kiện đối với người nhận con nuôi dẫn đến tình trạng khó quản lý trong việc xác nhận người nhận nuôi con nuôi đủ điều kiện nhận con nuôi.
Chưa có đội ngũ chuyên gia về tâm lý, y tế, xã hội về nuôi con nuôi trong hệ thống cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài cũng là hạn chế được Đoàn giám sát chỉ ra.
Dự thảo Nghị quyết về xử lý vi phạm pháp luật liên quan kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số được chỉnh lý theo hướng giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Đồng thời, tạo cơ chế xử lý phù hợp đối với trường hợp có sai sót, rủi ro nhưng không vụ lợi, vì lợi ích chung.
Nghị quyết 21-NQ/TW chỉ rõ nhiều cơ chế về giá đất, thu hồi đất, bồi thường và chuyển mục đích sử dụng đất vẫn còn bất cập. Việc làm rõ từng nhóm điểm nghẽn cùng định hướng xử lý tại Nghị quyết là cơ sở quan trọng để sửa đổi Luật Đất đai bảo đảm khả thi và đồng bộ.
Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Australia và New Zealand của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm từ ngày 9 đến 14/8/2026 không chỉ ghi nhận hàng loạt thỏa thuận hợp tác mà còn phản ánh tư duy chủ động mở rộng không gian phát triển chiến lược cho Việt Nam. Trong bối cảnh quốc tế biến động hiện nay, chuyến thăm trở thành một lát cắt quan trọng để nhìn nhận cách Việt Nam triển khai đối ngoại phục vụ phát triển trong giai đoạn mới.
Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số và từng bước trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045, việc nâng cao năng suất không còn là câu chuyện riêng của ngành khoa học và công nghệ, mà là một trong những nhiệm vụ trung tâm của cả hệ thống trong giai đoạn 2026–2030...
Ủy ban Thường vụ Quốc hội thảo luận về dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Xuất bản và Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, nhấn mạnh về tính hợp hiến, hợp pháp, đồng bộ của hệ thống pháp luật...
Chiều 11/8, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã tổ chức Diễn đàn: “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng”.
Lợi thế năng lượng trong thế kỷ XXI không chỉ đến từ việc sở hữu tài nguyên, mà từ khả năng biến chính sách thành dự án, biến dự án thành năng lượng và biến năng lượng thành tăng trưởng.