
Gạo là một trong những mặt hàng đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu hàng hóa nông sản xuất khẩu. Việt Nam là 1 trong 3 nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới. Vì vậy, vấn đề của hạt gạo hiện nay không phải là tìm đầu ra cho nông dân mà cần xem xét lại nên sản xuất giống lúa nào, sản phẩm nào mang về lợi nhuận cao hơn chứ không phải cứ sản xuất bất kỳ loại nào, chỉ nên tăng cường sản xuất loại nào thị trường có lợi thế, ông Nguyễn Ngọc Nam, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), nhận định.
Trung Quốc là thị trường số 1 của gạo Việt Nam nhưng lại "nóng, lạnh" rất thất thường. Mới đây là việc chính phủ Trung Quốc tăng thuế nhập khẩu nếp lên 50% khiến doanh nghiệp và nông dân trồng nếp lao đao. Để có thể xuất khẩu gạo, nếp vào thị trường này ổn định, chúng ta phải làm gì, thưa ông?
Cho đến thời điểm này, Trung Quốc vẫn là thị trường xuất khẩu số 1 của lúa gạo Việt Nam, nhưng năm nay, chính phủ Trung Quốc áp thuế nhập khẩu gạo và dùng các rào cản kỹ thuật đối với gạo nếp của Việt Nam.
Mấy năm trước Trung Quốc tăng nhập khẩu gạo nhưng không áp thuế đối với mặt hàng nếp nên từ năm 2017 trở về trước các doanh nghiệp Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu nếp vào thị trường này.
Trồng nếp có lãi hơn so với trồng lúa nên thời gian qua, nông dân các tỉnh An Giang, Đồng Tháp và Long An tăng diện tích trồng nếp trong khi đó mặt hàng nếp bán chủ yếu vào thị trường Trung Quốc.
Trung Quốc thị trường lớn của xuất khẩu gạo Việt Nam và không riêng gì cây lúa mà bất kỳ loại nông sản nào khi thị trường này có yêu cầu thì nông dân sẽ đáp ứng ngay, nhưng khi thị trường này dừng lại thì nông sản của bà con phải bán đổ bán tháo! Những năm gần đây thị trường Trung Quốc có nhu cầu nếp rất cao, hai là gạo thơm OM 5451, thứ ba là lúa ST. Năm 2017, cả nước xuất khẩu hơn 1,4 triệu tấn nếp, riêng thị trường Trung Quốc chiếm đến 1,2 triệu tấn.
Đầu năm 2018 tôi đã báo cáo và đề xuất với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chỉ đạo các địa phương về những rủi ro trong trồng nếp và việc mặt hàng đang bị lệ thuộc quá sâu vào thị trường Trung Quốc.
Tuy nhiên, nông dân ở các địa phương như: An Giang, Đồng Tháp, Long An vẫn mở rộng diện tích trồng nếp và nay xuất khẩu nếp đã gặp rủi ro do Trung Quốc áp thuế nhập khẩu 50%. Vì vậy, các doanh nghiệp xuất khẩu nếp và nông dân trồng nếp đều bị thua lỗ.
Trung Quốc đang cho xuất khẩu tồn kho gạo cũ của nhiều năm trước chất lượng rất kém, và nhập khẩu gạo mới nhưng vẫn cấp quota hạn ngạch và dựng lên rào cản thuế quan, nên xuất khẩu gạo sang thị trường Trung Quốc trong 9 tháng đầu năm rất hạn chế.
Vấn đề đặt ra trong sản xuất và xuất khẩu gạo của Việt Nam theo định hướng chiến lược sắp tới cũng có bề trái của nó, vì vậy, rất cần sự chỉ đạo chung của các bộ, ngành liên quan.
Xu hướng của người tiêu dùng đang chú trọng đến loại gạo an toàn và gạo sạch. Vậy theo ông chúng ta có thể sản xuất được 2 loại gạo này không?
Hiện nay chúng ta chỉ có thể sản xuất gạo an toàn chứ chưa có thể nói đến sản xuất gạo sạch, nếu nói gạo sạch là không đúng. Gạo sạch là loại gạo phải được quản lý ở mức độ an toàn, nếu làm gạo sạch ở mỗi công đoạn từ đất, nước, giống, vận chuyển, xây xát, chế biến ... tất cả đều phải có giấy chứng nhận gạo sạch.
Cho dù chúng ta quản lý được thuốc bảo vệ thực vật và quản lý được sử dụng phân bón cũng chưa thể gọi là gạo sạch mà chỉ có thể gọi là gạo an toàn, những diện tích lúa trồng ở vùng nuôi cá, nuôi tôm ở các tỉnh Cà Mau, Trà Vinh, Bến Tre ... đó gọi là sản phẩm an toàn nhưng rất ít.
Định hướng sản xuất lúa gạo an toàn là rất tốt vì loại lúa gạo này có giá bán trên thị trường rất cao so với lúa trồng trong điều kiện bình thường, nhưng loại lúa này chỉ sản xuất được một vụ/năm. Phương án sản xuất gạo an toàn đã có nhưng để nhân rộng ra thì chưa được.
Các thị trường nhập khẩu gạo đang dựng lên nhiều rào cản đặc biệt là rào cản kỹ thuật. Vậy chúng ta phải là gì trước tình hình này?
Các thị trường nhập khẩu đang dựng lên rất nhiều rào cản kỹ thuật là có thật. Trước đây gạo xuất khẩu đi Mỹ rất thuận lợi nhưng bây giờ họ dựng lên rào cản kỹ thuật về vấn đề an toàn thực phẩm và dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, thị trường Trung Quốc cũng dựng lên rào cản kỹ thuật đối với hạt gạo của Việt Nam. Thị trường Nhật Bản lâu nay nổi tiếng về rào cản kỹ thuật, Hàn Quốc, EU... cũng vậy.
Nhìn chung, các nước nhập khẩu gạo chất lượng cao đều đưa ra rào cản kỹ thuật và các quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm, do vậy, khi đưa sản phẩm vào nước họ chúng ta bắt buộc phải chấp nhận các quy định này.
Từng nước nhập khẩu có những thay đổi về chính sách nhập khẩu gạo nhưng các doanh nghiệp trong nước không thể nắm bắt kịp thời, vì vậy, chúng tôi có báo cáo với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, hỗ trợ doanh nghiệp bằng cách thông qua các tham tán thương mại ở các quốc gia đó, khi họ có thay đổi chính sách đối với mặt hàng lúa gạo, cập nhật thông tin báo về cho doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp sẽ triển khai xuống các hộ nông dân để phát triển và nâng cao giá trị hạt lúa.




Trong bối cảnh các thị trường truyền thống như Hoa Kỳ, EU và một phần Nhật Bản suy yếu, Trung Quốc - Hồng Kông cùng khối ASEAN đang trở thành động lực chính giúp duy trì đà tăng trưởng của ngành thủy sản Việt Nam...
Số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giảm nhiều so với cùng kỳ năm 2025. Theo chuyên gia, điều này phản ánh xu thế chung về sức chống chịu của doanh nghiệp đang dần cạn kiệt. Sự biến động của lạm phát, xung đột địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng, chi phí đầu vào tăng… đang bào mòn nguồn lực của doanh nghiệp, khả năng gánh rủi ro kéo dài ngày càng hạn chế.
Thị trường nông sản, chăn nuôi và thủy sản trong tháng 8/2026 ghi nhận nhiều diễn biến trái chiều. Trong khi giá lúa tươi tại Đồng bằng sông Cửu Long và giá cà phê tại Tây Nguyên tăng so với tháng trước, thì giá lợn hơi, hồ tiêu và tôm thẻ chân trắng lại chịu áp lực giảm do nguồn cung dồi dào và sức mua chưa phục hồi mạnh...
Hệ thống cảnh báo nhanh của Liên minh châu Âu (RASFF) ghi nhận 10 trường hợp nông, thủy sản Việt Nam vi phạm quy định an toàn thực phẩm trong tháng 7 và tháng 8/2026, đặt ra yêu cầu cấp thiết về siết chặt kiểm soát chất lượng xuất khẩu...
Sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi vẫn gặp khó khăn trong tiêu thụ do quy mô sản xuất nhỏ, chất lượng và sản lượng chưa đồng đều, chi phí lưu thông cao, năng lực nắm bắt nhu cầu tiêu dùng còn hạn chế, chưa tiếp cận thường xuyên các hệ thống phân phối…
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giảm nhiều so với cùng kỳ năm 2025. Theo chuyên gia, điều này phản ánh xu thế chung về sức chống chịu của doanh nghiệp đang dần cạn kiệt. Sự biến động của lạm phát, xung đột địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng, chi phí đầu vào tăng… đang bào mòn nguồn lực của doanh nghiệp, khả năng gánh rủi ro kéo dài ngày càng hạn chế.