
Tổ chức đánh giá tín nhiệm Moody’s Investors Service ngày 10/8 tuyên bố nâng một bậc định hạng tín nhiệm nhà phát hành nợ dài hạn của Chính phủ Việt Nam lên mức Ba3 từ mức B1 trước đó, đồng thời điều chỉnh triển vọng tín nhiệm của Việt Nam thành ‘ổn định’ từ ‘tích cực’.
Định hạng tín nhiệm nợ không bảo lãnh ưu tiên cao (senior unsecured ratings) của Việt Nam cũng tăng từ Ba3 lên B1.
Moody’s cho biết việc nâng định hạng tín nhiệm này dựa trên tiềm năng tăng trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế Việt Nam, với sự hậu thuẫn của việc sử dụng ngày càng có hiệu quả nguồn lao động và nguồn vốn trong nền kinh tế.
Thời hạn trung bình nợ chính phủ của Việt Nam ở mức dài, cộng thêm sự phụ thuộc vào nguồn vay nợ ngoại tệ giảm xuống được Moody’s xem là những dấu hiệu cho thấy gánh nặng nợ quốc gia của Việt Nam đang ổn định và có chiều hướng nhẹ dần.
Cấu trúc nợ chính phủ của Việt Nam cũng hạn chế mức độ rủi ro trong trường hợp xảy ra những cú sốc tài chính - tuyên bố của Moody’s cho biết.
Ngoài ra, tổ chức đánh giá tín nhiệm này nói rằng việc nâng hạng tín nhiệm cho Việt Nam còn phản ánh sự cải thiện sức khỏe hệ thống ngân hàng. Moody’s dự báo sự cải thiện đó sẽ duy trì, dù bắt đầu từ mức tương đối yếu.
Triển vọng tín nhiêm ‘ổn định’ phản ánh sự cân bằng giữa các yếu tố tích cực và tiêu cực đối với định hạng tín nhiệm Ba3 mà Moody’s dành cho Việt Nam.
Rủi ro giảm điểm tín nhiệm có thể đến từ những điểm yếu tồn tại dai dẳng trong hệ thống ngân hàng và trong trường hợp xung đột thương mại đang diễn ra giữa Mỹ và Trung Quốc dẫn đến thương mại toàn cầu giảm tốc mạnh.
Trái lại, Việt Nam có thể được nâng điểm tín nhiệm nếu khả năng thanh toán nợ được cải thiện thêm và đạt kết quả tốt hơn về thương mại so với dự báo hiện nay - Moody’s cho hay.
Gần đây, các tổ chức đánh giá tín nhiệm hàng đầu thế giới đã có những động thái tích cực đối với Việt Nam.
Hồi trung tuần tháng 5, Fitch Ratings nâng một bậc định hạng tín nhiệm nhà phát hành nợ ngoại tệ dài hạn của Việt Nam lên BB với triển vọng ‘ổn định’, từ mức BB- trước đó.
Định hạng này của Fitch dành cho Việt Nam cao hơn một bậc so với mức Ba3 trong thang đánh giá của Moody’s.
Một tổ chức đánh giá tín nhiệm lớn khác là Standard & Poor’s hiện dành cho Việt Nam định hạng tín nhiệm nợ dài hạn ở mức BB-, triển vọng ‘ổn định’.
Để đạt tới mức khuyến nghị đầu tư (investment grade), định hạng tín nhiệm của Việt Nam cần được Fitch nâng thêm 2 bậc nữa, Moody’s nâng 3 bậc, và Standard & Poor’s nâng 3 bậc.
Đến ngày 23/7, lãi suất huy động trực tuyến bình quân của 36 ngân hàng đạt khoảng 6,16%/năm (kỳ hạn 6 tháng) và 6,39%/năm (kỳ hạn 12 tháng). So với cuối tháng 6/2026, chỉ có 2 ngân hàng tăng lãi suất…
Với 2 phiên giảm liên tiếp, giá mua, bán vàng miếng SJC tại các hệ thống lớn giảm phổ biến 8,4 triệu đồng/lượng và 6,4 triệu đồng/lượng. Cá biệt tại Ngọc Thẩm, mức giảm trên lên tới 13 triệu đồng/lượng với chiều mua và 10 triệu đồng/lượng với chiều bán…
Tỷ giá USD/VND chịu tác động bất lợi khi nhập siêu nới rộng và giá dầu Brent leo lên 96,2 USD/thùng, song thanh khoản hệ thống ngân hàng vẫn ở trạng thái thuận lợi có thể góp phần hạn chế biến động mạnh trên thị trường ngoại hối...
Theo quy hoạch, Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh sẽ cần huy động khoảng 214-241 tỷ USD để đầu tư hơn 2.000 km đường sắt đô thị (metro) trong những thập kỷ tới. Tuy nhiên, thách thức không chỉ ở việc thu xếp đủ nguồn vốn, mà còn ở thiết kế một cơ chế tài chính đủ bền vững để tiếp tục thu hút đầu tư, bảo đảm vận hành hiệu quả và duy trì an toàn tài khóa trong dài hạn...
Trong phiên giao dịch ngày 22/7, tỷ giá đồng yên Nhật Bản so với đồng USD giảm xuống mức đáy mới của 40 năm qua. Sức ép mất giá đối với yên tăng thêm khi chiến lược kinh tế mới của Thủ tướng Sanae Takaichi khiến nhà đầu tư lo ngại về sức khỏe nền tài khóa của Nhật Bản...
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.