
Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội) cho biết, theo số liệu báo cáo từ các doanh nghiệp, tổng số lao động đi làm việc ở nước ngoài trong tháng 10/2019 là 13.415 lao động. Con số này bằng 92,2% so với cùng kỳ năm ngoái (tháng 10/2018 là 14.548 lao động).
Trong tháng 10, Nhật Bản dẫn đầu trong số các thị trường về thu hút lao động Việt Nam sang làm việc với 8.327 lao động, tiếp đến là Đài Loan với 4.216 lao động, Hàn Quốc với 647 lao động, Macao 116 lao động. Các thị trường khác có số lượng lao động đi làm việc dưới 100 người như Các Tiểu vương quốc Ả - rập thống nhất, Ả rập - Xê út và một số thị trường khác.
Như vậy, trong 10 tháng năm 2019, tổng số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là 118.030 lao động. Con số này đạt 98% kế hoạch năm 2019, với mục tiêu là đưa 120.000 lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
Tính chung 10 tháng, Nhật Bản vẫn là thị trường có đông lao động Việt Nam đi làm việc nhất với 61.937 lao động, vượt Đài Loan với 45.390 lao động.
Cũng theo số liệu của Cục Quản lý lao động ngoài nước, nhiều tháng liên tiếp (từ tháng 7 đến nay) Nhật Bản đã vượt qua Đài Loan, trở thành điểm đến hấp dẫn của lao động Việt Nam không chỉ bởi tiền lương khá, mà còn là thị trường phát triển khoa học-kỹ thuật và công nghệ cùng kỹ năng lao động cao.
Mới đây nhất, Nhật Bản cũng đã chính thức mở cửa cho lao động kỹ năng đặc định của Việt Nam sang nước này làm việc theo chương trình mới. Như vậy, thời gian tới, số lao động Việt Nam sang Nhật Bản làm việc dự kiến sẽ tiếp tục tăng lên.
Với chương trình mới cho lao động kỹ năng đặc định, hiện phía Nhật Bản xem xét tuyển dụng lao động trong 14 ngành nghề gồm: xây dựng, đóng tàu/công nghiệp tàu thủy, nông nghiệp, hộ lý, lưu trú, sản xuất thực phẩm/đồ uống, nhà hàng, ngư nghiệp, vệ sinh tòa nhà, công nghiệp rèn đúc, công nghiệp điện/ điện tử/thông tin, bảo dưỡng/ sửa chữa ô tô và hàng không.
Trong bối cảnh đất nước đang đặt mục tiêu tăng trưởng cao, nhanh và bền vững, việc sản xuất thành công nhôm thỏi đầu tiên không chỉ là thành quả của một dự án công nghiệp, mà còn là sự khẳng định về năng lực tự chủ, hiện thực hóa khát vọng chế biến sâu và nâng cao giá trị tài nguyên quốc gia...
Chỉ trong một thập kỷ, tỷ trọng của tôm hùm trong tổng kim ngạch xuất khẩu tôm đã tăng từ khoảng 7% lên gần 25% trong nửa đầu năm 2026. Đà tăng trưởng này mở ra triển vọng đưa tôm hùm trở thành ngành hàng xuất khẩu tỷ USD nếu tháo gỡ được các rào cản thị trường và xây dựng chiến lược phát triển dài hạn...
Việt Nam hiện là quốc gia dẫn đầu thế giới về xuất khẩu hồ tiêu. Tuy nhiên, trước áp lực từ các tiêu chuẩn kỹ thuật ngày càng khắt khe của thị trường nhập khẩu, ngành hàng này cần thay đổi chiến lược: chuyển từ tăng trưởng quy mô sang ưu tiên chất lượng và tính bền vững. Để giữ vững vị thế, việc xây dựng chuỗi giá trị minh bạch và thắt chặt quy trình kiểm soát chất lượng là yêu cầu cấp thiết...
Tuy đã có các khung cơ bản nhưng những chi tiết để doanh nghiệp có thể thực hiện được dự án tín chỉ carbon vẫn còn thiếu. Doanh nghiệp vẫn đang chờ hướng dẫn chi tiết từ các bộ, ngành để có thể tạo ra tín chỉ trao đổi, bù trừ trong nước và có thêm loại hàng hóa thứ hai đưa lên sàn giao dịch, thay vì chỉ có Hạn ngạch như hiện nay.
Các chính sách thuế quan mới của Hoa Kỳ đang tạo ra những thách thức và cơ hội cho nền kinh tế Việt Nam. Mức thuế 12,5% theo Điều 301 không gây tác động tiêu cực lớn đến xuất khẩu công nghệ cao, nhưng lại đặt ra bài toán khó cho ngành nông sản và dệt may. Việt Nam cần có chiến lược thích ứng để duy trì lợi thế cạnh tranh.
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 30-2026 phát hành ngày 27/07/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Tuy đã có các khung cơ bản nhưng những chi tiết để doanh nghiệp có thể thực hiện được dự án tín chỉ carbon vẫn còn thiếu. Doanh nghiệp vẫn đang chờ hướng dẫn chi tiết từ các bộ, ngành để có thể tạo ra tín chỉ trao đổi, bù trừ trong nước và có thêm loại hàng hóa thứ hai đưa lên sàn giao dịch, thay vì chỉ có Hạn ngạch như hiện nay.