
Theo Đề án, Việt Nam đặt mục tiêu tới năm 2030 thu hút đầu tư mới 50-60 cơ sở chế biến rau quả có quy mô lớn và vừa; xây dựng, phát triển thành công một số tập đoàn, doanh nghiệp chế biến rau quả hiện đại ngang tầm khu vực và thế giới với khả năng cạnh tranh quốc tế cao.
Đến năm 2030, giá trị kim ngạch xuất khẩu rau quả đạt 8 - 10 tỷ USD. Trong đó, tỷ trọng giá trị kim ngạch xuất khẩu sản phẩm rau quả chế biến đạt 30% trở lên và công suất chế biến rau quả đạt 2 triệu tấn sản phẩm/năm - gấp gần 2 lần so với năm 2020.
Để đạt các mục tiêu trên, nhiệm vụ của Đề án là đẩy mạnh đầu tư nâng cao năng lực chế biến rau quả; phát triển cơ sở sơ chế, bảo quản rau quả tươi; đẩy mạnh chế biến các sản phẩm rau quả chủ lực, sản phẩm có giá trị gia tăng cao; tổ chức sản xuất rau quả nguyên liệu phục vụ chế biến; phát triển thị trường tiêu thụ rau quả.
Trong đó, xây dựng hệ thống cơ sở sơ chế, đóng gói và kho mát bảo quản rau quả tươi có quy mô và trang thiết bị phù hợp với sản lượng và đặc tính cho các loại rau quả chủ lực nhằm giảm nhanh tổn thất sau thu hoạch.
Thu hút mạnh đầu tư để đến năm 2030, đảm bảo tại những khu vực sản xuất rau quả tập trung, hợp tác xã sản xuất và tại các cơ sở, đại lý thu gom lớn được đầu tư máy, trang thiết bị, xưởng sơ chế, đóng gói và kho mát với quy mô phù hợp để hình thành hệ thống các cơ sở sơ chế, đóng gói đồng bộ.
Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư trung tâm chiếu xạ thực phẩm đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế gắn với các vùng sản xuất rau quả tập trung, quy mô lớn.
Bên cạnh đó, Đề án cũng nêu nhiệm vụ đẩy mạnh chế biến sâu, đa dạng hóa sản phẩm từ nguyên liệu rau quả và từ phế phụ phẩm sau chế biến. Phấn đấu trong giai đoạn 2021 - 2030, tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng bình quân trên 10%/năm. Đồng thời, tập trung chế biến các nhóm sản phẩm chủ lực bao gồm rau quả đóng hộp, rau quả đông lạnh, nước ép và pure rau quả, rau quả sấy, snack, rau quả muối...
Ngoài ra, Đề án cũng nêu nhiệm vụ xây dựng và hình thành các vùng chuyên canh sản xuất rau quả, đảm bảo nguyên liệu được cung cấp (khoảng 5-6 triệu tấn vào năm 2030) có chất lượng và an toàn thực phẩm cho hoạt động chế biến.




Với 100% đại biểu Quốc hội có mặt tán thành, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết thành lập thành phố Quảng Ninh trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của tỉnh. Quyết định này không chỉ thay đổi mô hình đơn vị hành chính mà còn mở ra không gian phát triển mới cho một cực tăng trưởng quan trọng của miền Bắc.
Với đại đa số ý kiến tán thành, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 1/9/2026.
Với 480/480 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết thành lập thành phố Bắc Ninh trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của tỉnh Bắc Ninh. Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 20/9/2026.
Nhân tài phải được nhận diện bằng năng lực thực tế, sản phẩm và giá trị cống hiến; chính sách thu hút, trọng dụng phải gắn với nhiệm vụ chiến lược, đi cùng quyền hạn, nguồn lực và trách nhiệm về kết quả...
Concert quốc gia “Tổ quốc trong tim” 2026 cho thấy sức hút của nghệ thuật chính luận khi kết hợp những câu chuyện lịch sử, tinh thần dân tộc với âm nhạc và công nghệ trình diễn hiện đại...
Trong khuôn khổ Diễn đàn “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức, các chuyên gia pháp lý và kinh tế đã đưa ra những góc nhìn sâu sắc về yêu cầu cải cách thể chế, trọng tâm là dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi).
Không chỉ mở rộng, giao thêm thẩm quyền tự chủ đầu tư, kinh doanh cho doanh nghiệp mà còn giao cho Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam là đơn vị chủ lực thay mặt cho Nhà nước để quản lý hợp đồng về dầu khí. Đó là những thay đổi rất lớn từ Luật Dầu khí (sửa đổi) hiện nay.