
Đây là năm thứ 4 liên tiếp Quảng Ninh giành vị trí đứng đầu cả nước về chỉ số PCI. Điểm số này của Quảng Ninh tăng 1,69 điểm PCI tổng hợp so với năm trước đó. Quảng Ninh cũng là tỉnh duy nhất trong 63 tỉnh thành, thành phố vượt qua điểm mốc 75 điểm trong kết quả PCI từ năm 2010 trở lại đây.
Kết quả này tới từ những nỗ lực đặc biệt của tỉnh Quảng Ninh trong năm 2020, khi chính quyền này đã đặt trọng tâm vào công tác hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khó khăn, thách thức do dịch Covid-19. Từ những kiến nghị của doanh nghiệp, tỉnh Quảng Ninh đã kịp thời giải quyết các vướng mắc nảy sinh do dịch Covid-19 về thủ tục xuất nhập khẩu hành hoá cho doanh nghiệp.
Quảng Ninh đã tăng số thủ tục hành chính đưa vào giải quyết tại Trung tâm phục vụ hành chính tỉnh (1.939 thủ tục), cấp huyện (293 thủ tục) và đã cung cấp được 1.552 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3,4 trên cổng dịch vụ công trực tuyến của tỉnh. Đặc biệt, Quảng Ninh đã đưa được 525 thủ tục hành chính mức độ 3,4 lên Cổng dịch vụ công quốc gia, đứng đầu cả nước.
Đứng thứ 2 trong bảng xếp hạng là Đồng Tháp. Đồng Tháp một lần nữa cũng vượt qua kỷ lục của chính mình, khi đạt 72,81 điểm và xác lập năm thứ 13 liên tiếp nằm trong nhóm 5 tỉnh, thành phố đứng đầu PCI cả nước. Đồng Tháp cải thiện đáng kể so với năm 2019 trong công tác cải cách thủ tục hành chính (tăng 1,1 điểm), tạo thuận lợi về gia nhập thị trường (tăng 0,81 điểm), giảm thiểu chi phí không chính thức cho doanh nghiệp (tăng 0,45 điểm)…
Ở vị trí thứ 4 là Long An 70,37 điểm, tăng 5 bậc so với năm 2019. Bước tiến mạnh mẽ của Long An là là việc tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng cho doanh nghiệp, tăng 1,17 điểm và công tác cải cách thủ tục hành chính, tăng 1,32 điểm.
Vị trí tiếp theo là Bình Dương 70,16 điểm. Các tỉnh, thành phố tiếp theo trong nhóm 10 tỉnh, thành phố đứng đầu PCI 2020 bao gồm Đà Nẵng (70,12 điểm), Vĩnh Long (69,34 điểm), Hải Phòng (69,27 điểm), Bến Tre (69,08 điểm), Hà Nội (66,93 điểm) và Bắc Ninh (66,74 điểm).
19 tỉnh, thành đứng trong nhóm điều hành khá có điểm số từ 63,84 điểm – 66,56 điểm. Đứng đầu trong nhóm này là tỉnh Thái Nguyên với 66,56 điểm, xếp vị trí thứ 11. Đứng cuối trong nhóm này là Vĩnh Phúc, với 63,84 điểm.
32 tỉnh, thành nằm trong nhóm có chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2020 ở mức trung bình. Nhóm này có mức điểm cao nhất 63,47 điểm với tỉnh Hà Nam. Hà Giang ở vị trí thấp nhất trong nhóm này với 61,16 điểm.
Kiên Giang và Bạc Liêu là 2 địa phương đứng cuối trong bảng xếp hạng PCI, số điểm lần lượt là 60,01 điểm và 59,61 điểm.
Báo cáo cho thấy, 2020 cũng là năm thứ tư liên tiếp mà điểm số của tỉnh trung vị đại diện cho bảng xếp hạng PCI đạt trên 60 điểm, và ghi nhận xu hướng hội tụ mạnh mẽ hơn khi mà khoảng cách điểm số giữa tỉnh có kết quả PCI cao nhất và thấp nhất tiếp tục được thu hẹp lại. Điều này phát đi tín hiệu những động lực và những thực tiễn cải cách tốt đã được lan toả.
Chiều ngày 24/7/2026, tại Hà Nội, Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV tiến hành phiên bế mạc. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì hội nghị. Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn điều hành phiên bế mạc...
Ngày 24/7, Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV bước sang ngày làm việc thứ năm và bế mạc Hội nghị.
Tại Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, lần đầu tiên, những yêu cầu chuyển từ quản lý đất đai theo từng thửa đất sang quản trị không gian phát triển đã được đề cập và bàn thảo. Điều này phản ánh một bước chuyển trong tư duy phát triển quốc gia, đặt nền móng cho việc tổ chức lại không gian kinh tế và phân bổ nguồn lực của Việt Nam trong giai đoạn mới...
Ngày 24/7, tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ ba của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Tạp chí Kinh tế Việt Nam trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu bế mạc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.
Ngày 23/7/2026, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV tiếp tục ngày làm việc thứ tư.
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.
Việc chuẩn bị đầy đủ về thể chế, năng lực kỹ thuật và nguồn lực là điều kiện tiên quyết để tham gia hiệu quả, minh bạch vào thị trường carbon toàn cầu. Đó là khẳng định của Phó Cục trưởng Cục Biến đổi Khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Tuấn Quang.