Tại sao lại chỉ đặt vấn đề chia sẻ rủi ro ở lĩnh vực này, đầu tư vào nông nghiệp cũng rủi ro nhiều sao không có cơ chế chia sẻ rủi ro, Chủ nhiệm Uỷ ban Tư pháp Lê Thị Nga đặt câu hỏi về dự án Luật PPP.
Chiều 16/9, Chính phủ đã trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội dự án Luật Đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP).
Theo tờ trình của Chính phủ thì thực tiễn triển khai thời gian qua cho thấy việc đầu tư theo phương thức PPP vẫn còn nhiều rủi ro. Trong số đó có những rủi ro của thị trường, nhưng cũng có nhiều rủi ro xuất phát từ các quyết định hành chính của phía Nhà nước (quyết định bỏ trạm hoặc xả trạm, điều chỉnh quy hoạch, cơ chế giá, phí, chính sách ngoại tệ…) làm ảnh hưởng doanh thu dự án. Trong khi đó, các biện pháp như gia hạn thời hạn hợp đồng hay tăng mức giá, phí cũng không thể đảm bảo được mức doanh thu cần thiết để nhà đầu tư, doanh nghiệp có thể chi trả các chi phí và duy trì hoạt động kinh doanh.
Do đó, Chính phủ đề xuất cơ chế là Chính phủ cam kết chia sẻ với nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án không quá 50% phần hụt thu giữa doanh thu thực tế và doanh thu cam kết tại hợp đồng.
Nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án cam kết chia sẻ với Chính phủ không thấp hơn 50% phần tăng thu giữa doanh thu thực tế và doanh thu cam kết tại hợp đồng.
Chính phủ quyết định việc áp dụng cơ chế chia sẻ rủi ro về doanh thu đối với dự án PPP đáp ứng các điều kiện, là dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ.
Khi cơ quan ký kết hợp đồng đã thực hiện đầy đủ các biện pháp chia sẻ rủi ro như điều chỉnh mức giá, phí hoặc thời hạn hợp đồng (quy định tại khoản 1 điều 76 của Luật này) nhưng chưa bảo đảm được mức doanh thu cần thiết để duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh của dự án.
Cơ quan thẩm tra dự án luật (Uỷ ban Kinh tế của Quốc hội) có hai loại ý kiến.
Loại ý kiến thứ nhất đồng tình với quy định về cơ chế chia sẻ rủi ro về doanh thu như dự thảo Luật. Tuy nhiên, đề nghị nghiên cứu việc áp dụng cơ chế này cho tất cả các dự án PPP.
Theo dự thảo luật, tại khoản 2 điều 76 chỉ quy định cơ chế chia sẻ rủi ro đối với các dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội và Thủ tướng Chính phủ, không áp dụng cơ chế này đối với các dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác, Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế Vũ Hồng Thanh cho biết.
Loại ý kiến thứ hai không nhất trí về cơ chế chia sẻ rủi ro về doanh thu, vì cho rằng, việc lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án PPP đã được thực hiện thông qua hình thức đấu thầu, việc kinh doanh của nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án phải tuân thủ nguyên tắc thị trường.
Ủy ban Kinh tế cho rằng, phần lớn các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài đều mong muốn có cơ chế bảo lãnh về doanh thu của Chính phủ trong quá trình triển khai thực hiện các dự án PPP. Tuy nhiên, việc cấp bảo lãnh của Chính phủ đối với các dự án này sẽ không phù hợp với quy định tại Luật Quản lý nợ công và có thể tạo tâm lý trông chờ từ phía các nhà đầu tư.
Để xử lý các rủi ro liên quan đến cơ chế chia sẻ rủi ro về doanh thu ngay tại dự thảo luật, bảo đảm tính công khai, minh bạch của dự thảo luật, cơ quan thẩm tra đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu, quy định cụ thể hơn về cơ chế chia sẻ rủi ro này, cũng như quy định rõ hơn về cơ chế áp dụng đối với các dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Chủ nhiệm Uỷ ban Tư pháp Lê Thị Nga nhìn nhận, sẽ rất dở nếu đặt ra vấn đề chia sẻ rủi ro về doanh thu với các lý do như quyết định bỏ trạm hoặc xả trạm được nêu tại tờ trình.
Bà Nga cho rằng nếu sai từ hợp đồng, chẳng hạn với dự án BOT người ta không đi mà vẫn bắt trả tiền thì anh phải ký lại hợp đồng cho đúng chứ không phải là chia sẻ rủi ro.
Ngoài nội dung trên, Chủ nhiệm Nga còn nêu một số câu hỏi khác với Bộ trưởng Dũng.
Đó là, những hạn chế lớn nhất của các dự án PPP thời gian qua là gì, dự thảo luật có quy định nào để khắc phục?
Hai, thời gian qua chỉ có lĩnh vực giao thông thu hút dự án BOT, những lĩnh vực khác ít có dự án BOT thì nói lên điều gì? nhiều dự án BOT có vướng mắc, một số ngân hàng bị đưa vào làm con tin, đề nghị Chính phủ trả lời xem quốc tế làm BOT có rơi vào tình trạng này không và dự thảo Luật PPP sẽ giải quyết được gì trong các bất cập thời gian qua của các dự án BOT?
Bà Nga cũng nêu một vấn đề là tờ trình dự án luật nói các nước không triển khai loại hợp đồng BT, vậy tại sao Việt Nam vẫn dùng, trong khi chính Chính phủ nhân định là có sự nóng vội, tràn lan khi thực hiện hình thức này thời gian qua?
Tuy nhiên, Phó chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển đề nghị Bộ trưởng Dũng trả lời các câu hỏi trên bằng văn bản vì không còn thời gian.
Chính phủ đề xuất bãi bỏ, đơn giản hóa 20 thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh; phân cấp, phân quyền 10 nội dung; tháo gỡ 31 nội dung vướng mắc, đặc biệt gắn với yêu cầu của môi trường kinh tế số và nền tảng số.
Bộ Chính trị quyết định đổi tên Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương thành Đảng ủy Dân vận, Mặt trận và các đoàn thể Trung ương; đồng thời quy định chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Đảng ủy.
Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh yêu cầu quản lý, điều tiết giá đất và thị trường bất động sản, đặc biệt kiểm soát chặt giá nhà ở xã hội, nhà cho thuê, bảo đảm người thu nhập thấp có khả năng tiếp cận nhà ở; đồng thời hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản theo hướng đồng bộ, thống nhất và khả thi.
Thảo luận về dự án Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi), các đại biểu Quốc hội đề nghị hoàn thiện cơ chế kiểm soát hoạt động đấu giá, xử lý hành vi thông đồng, thao túng, bỏ cọc; đồng thời tăng cường minh bạch thông tin, giám sát đấu giá trực tuyến và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người tham gia.
Chiều 19/10, tại Nhà Quốc hội, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng và Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn gặp mặt, chúc mừng các nữ đại biểu Quốc hội khóa XVI, nữ cán bộ cấp vụ của Văn phòng Quốc hội nhân dịp kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10.
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 42-2026 phát hành ngày 19/10/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh là một chiến lược dài hạn, đòi hỏi sự chuyển đổi đồng bộ từ tư duy phát triển, mô hình quản trị đến cách khai thác và sử dụng nguồn lực biển.