
Tính đến hết tháng 11/2019, thặng dư thương mại hàng hoá của Việt Nam đã đạt mức thặng dư gần 11 tỷ USD.
Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong tháng 11/2019 đạt 44,13 tỷ USD, giảm 5,3% so với tháng trước.
Trong đó, trị giá xuất khẩu đạt 22,79 tỷ USD, giảm 5,9% so với tháng trước (tương ứng giảm 1,44 tỷ USD) và nhập khẩu đạt 21,34 tỷ USD, giảm 4,6% (tương ứng giảm 1,03 tỷ USD).
Tính chung 11 tháng năm 2019, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 472,36 tỷ USD, tăng 7,3% (tương ứng tăng 32,13 tỷ USD) so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó trị giá hàng hóa xuất khẩu đạt 241,65 tỷ USD, tăng 7,9% và nhập khẩu đạt 230,71 tỷ USD, tăng 6,6%.
Như vậy, cán cân thương mại hàng hóa đạt thặng dư 1,45 tỷ USD trong tháng 11, góp phần đưa mức thặng dư thương mại hàng hóa của Việt Nam trong 11 tháng năm 2019 đạt thặng dư 10,94 tỷ USD.
Cụ thể hơn, báo cáo của Tổng cục Hải quan cho biết, về xuất khẩu, tổng trị giá xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam trong 11 tháng năm 2019 tăng 7,9%, tương ứng tăng 17,74 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 19,3%; điện thoại các loại tăng 5%; hàng dệt may tăng 7,8%; giày dép các loại tăng 12,9%; máy móc thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác tăng 10,4%; gỗ và sản phẩm gỗ tăng 18,1%; đá quý kim loại quý và sản phẩm tăng 3,5 lần...
Về nhập khẩu, trị giá nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong 11 tháng năm 2019 đạt 230,71 tỷ USD, tăng 6,6% so với cùng kỳ năm 2018.
Các mặt hàng tăng chủ yếu là máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện tăng 7,72 tỷ USD; máy móc thiết bị dụng cụ & phụ tùng khác tăng 3,21 tỷ USD; ô tô nguyên chiếc các loại tăng 1,44 tỷ USD; than các loại tăng 1,21 tỷ USD; dầu thô tăng 912 triệu USD…
Bên cạnh đó có một só nhóm hàng giảm mạnh như xăng dầu các loại giảm 1,85 tỷ USD; điện thoại các loại & linh kiện giảm 1,04 tỷ USD; kim lọai thường và sản phẩm giảm 887 triệu USD; lúa mì giảm 471 triệu USD…
Về thị trường xuất khẩu, trong 11 tháng năm 2019, trao đổi thương mại hàng hóa của Việt Nam với châu Mỹ đạt mức tăng trưởng cao nhất với 87,62 tỷ USD, tăng 22,2% so với cùng kỳ năm 2018.
Trong khi đó, xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam với châu Á tiếp tục chiếm tỷ trọng cao nhất (65,4%) trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước.
Trị giá xuất nhập khẩu trong 11 tháng năm 2019 với thị trường này đạt 308,73 tỷ USD, tăng 4,8% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó trị giá xuất khẩu là 123,63 tỷ USD, tăng 2,4% và trị giá nhập khẩu là 185,1 tỷ USD, tăng 6,5%.
Kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam với các châu lục khác lần lượt là châu Âu 60,59 tỷ USD, tăng 2,5%; châu Đại Dương 8,88 tỷ USD, tăng 5,7% và châu Phi 6,55 tỷ USD, tăng nhẹ 0,3% so với cùng kỳ năm 2018.



Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị đã trình bày chuyên đề về Quy định số 224-QĐ/TW về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh. Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy trân trọng giới thiệu toàn văn bài viết.
Sáng 16/10, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ Tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và chỉ đạo Hội nghị.
Trong các cuộc tiếp Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào Vilay Lakhamphong, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh việc triển khai hiệu quả các thỏa thuận cấp cao, thúc đẩy hợp tác kinh tế, kết nối hạ tầng, thương mại và đầu tư giữa hai nước.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu nâng cao chất lượng lập pháp, tháo gỡ những vướng mắc về đất đai, nhà ở, đầu tư, kinh doanh; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp, đồng thời phát huy vai trò Thủ đô trong đóng góp hoàn thiện chính sách, pháp luật chung.
Trong 3 tháng cuối năm, Bộ Xây dựng sẽ tiếp tục theo dõi sát diễn biến thị trường bất động sản; kịp thời nghiên cứu, đề xuất các giải pháp ổn định thị trường, thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển lành mạnh, bền vững; Đồng thời, tiếp tục rà soát, tháo gỡ vướng mắc cho các dự án giao thông, bảo đảm tiến độ các công trình, dự án trọng điểm…
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Theo các chuyên gia, thay vì cạnh tranh bằng ưu đãi thuế hoặc chi phí lao động giá rẻ, Việt Nam cần chuyển hướng cạnh tranh bằng chất lượng hạ tầng đô thị, dịch vụ công và môi trường sống thân thiện.