
Theo thống kê từ Công ty Chứng khoán Bảo Việt (BVSC), trong tuần cuối cùng của tháng 6, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng qua cả 2 kênh tín phiếu và OMO.
Qua kênh tín phiếu, 34.999 tỷ đồng đã được bơm ròng vào thị trường. Cụ thể, Ngân hàng Nhà nước đã phát hành mới 32.999 tỷ đồng kỳ hạn 7 ngày, lãi suất 3% trong khi có 67.999 tỷ đồng đáo hạn trong tuần.
Còn kênh OMO, Ngân hàng Nhà nước phát hành mới 12.000 tỷ đồng và chỉ có 21 tỷ đồng của tuần trước đáo hạn.
Tổng hợp hai kênh OMO và tín phiếu, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 46.979 tỷ đồng trong tuần qua. Tính đến thời điểm hiện tại, đang có lượng tín phiếu lưu hành là 32.999 tỷ đồng, lượng OMO đang lưu hành tương ứng là 12.000 tỷ.
Lũy kế từ đầu năm 2019 đến nay, Ngân hàng Nhà nước đã hút ròng tổng cộng 77.507 tỷ đồng. Việc bơm ròng trở lại của Ngân hàng Nhà nước với khối lượng khá lớn cho thấy thanh khoản hệ thống ngân hàng tuần qua có biến động mạnh theo chiều hướng khan hiếm vốn hơn.
BVSC cho rằng đây là tín hiệu đáng lưu ý và cần thêm thời gian để quan sát trước khi có nhận định rõ nét hơn về một sự thay đổi trong xu hướng thanh khoản của các ngân hàng trong thời gian tới.
Lãi suất liên ngân hàng trong tuần có nhiều biến động. Có thời điểm lãi suất qua đêm, 1 tuần và 2 tuần cùng lên cao mức 3,7%/năm, tuy nhiên nhanh chóng hạ nhiệt về cuối tuần và đóng cửa ở mức 3,25% đối với kỳ hạn qua đêm và 1 tuần, 3,5% đối với kỳ hạn 2 tuần.
Việc lãi suất liên ngân hàng bật tăng mạnh đã khiến Ngân hàng Nhà nước có động thái bơm ròng vốn mạnh qua hai kênh OMO và tín phiếu, qua đó giúp lãi suất hạ nhiệt và lùi về mức 3,2%% trong phiên cuối tuần.
BVSC cho biết, lượng tín phiếu đang lưu hành khá lớn (33 nghìn tỷ), có thể đóng vai trò là kênh "dự trữ thanh khoản" cho hệ thống nếu tình hình căng thẳng vốn tiếp tục diễn ra. Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước cũng có thể đẩy mạnh trở lại kênh OMO nhằm hỗ trợ cho các ngân hàng trong trường hợp cần thiết.
Trong khi đó BSC đánh giá, với biến động trong tuần qua sau nhiều tuần ổn định cho thấy thanh khoản thị trường có dấu hiệu bớt dồi dào sau đợt phát hành tín phiếu kéo dài 8 tuần liên tiếp của Ngân hàng Nhà nước. Dù vậy những giao dịch quan trong lại được ghi nhận vào thời điểm cuối quý 2. Do vậy biến động lãi suất có thể không chỉ đến từ nhu cầu thực tế mà còn từ nhu cầu dự trữ thanh toán của các Ngân hàng vào thời điểm cuối quý.
7 tháng năm 2026, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì sự ổn định với những tín hiệu tích cực từ khu vực sản xuất và đầu tư công. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tăng 18,4% so với cùng kỳ, góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng; chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 11,4%, đánh dấu mức tăng cao nhất trong nhiều năm qua. Đặc biệt, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giải ngân ước đạt 15,20 tỷ USD, thiết lập kỷ lục cao nhất của kỳ 7 tháng trong vòng 5 năm trở lại đây... Trong bối cảnh đó, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 7 tháng tăng 4,39%, và lạm phát cơ bản được giữ ở mức 4,19%...
Áp lực giải ngân trong thời gian còn lại của năm 2026 rất lớn, song vấn đề đặt ra không chỉ là giải ngân hết vốn mà phải chuyển vốn ngân sách thành khối lượng công trình thực tế, năng lực sản xuất mới và giá trị gia tăng cho nền kinh tế.
Ngày 6/8, Ngân hàng TMCP Nam Á (Nam A Bank -HOSE: NAB), FiinGroup, Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại TP.HCM (VIFC-HCMC) và Viện Tăng trưởng xanh toàn cầu (GGGI) Việt Nam sẽ phối hợp tổ chức Hội nghị Tài chính Xanh Việt Nam năm 2026 tại TP. Hồ Chí Minh, với sự đồng hành của Optima Wealth Partners…
Sau chặng đường kinh tế nửa đầu năm 2026, câu hỏi đặt ra lúc này là liệu Việt Nam có thể đạt mục tiêu tăng GDP hai con số, đồng thời vẫn kiểm soát được lạm phát và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô hay không? Đây không phải là sự lựa chọn giữa tăng trưởng hay ổn định. Vấn đề cốt lõi là chúng ta lựa chọn phương thức điều hành như thế nào để đạt được cả hai mục tiêu với chi phí thấp nhất.
Một trong những vấn đề trọng tâm hiện nay của Việt Nam là làm thế nào để vừa đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, vừa duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm phát triển bền vững trong dài hạn. Mục tiêu tăng trưởng bình quân khoảng 10% trong giai đoạn tới cần được hiểu là mức bình quân của cả giai đoạn, thay vì yêu cầu mọi năm đều phải đạt trên 10%. Cách tiếp cận này giúp tránh tư duy tăng trưởng bằng mọi giá, đồng thời tạo dư địa để điều hành kinh tế linh hoạt theo từng thời kỳ....
Sáu tháng đầu năm 2026 khép lại với nhiều tín hiệu tích cực của nền kinh tế. Đằng sau những con số tăng trưởng là yêu cầu nhìn lại hiệu quả thực thi các quyết sách và nhận diện những động lực cần tiếp tục được khơi thông trong chặng đường còn lại của năm, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Tại Họp báo Chính phủ thường kỳ do Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Đặng Xuân Phong chủ trì ngày 3/8, thông tin về tình hình phát triển kinh tế-xã hội tháng 7 và 7 tháng đầu năm cho thấy các ngành sản xuất duy trì xu hướng tích cực.