
Đây là thông tin được cho biết tại lễ ký kết Bản ghi nhớ hợp tác về đẩy mạnh tiếp nhận lao động kỹ năng đặc định Việt Nam ngành Dịch vụ lưu trú và khách sạn sang làm việc tại Nhật Bản giữa Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội) và Hiệp hội các nghiệp đoàn ngành dịch vụ lưu trú Ryokan và khách sạn toàn Nhật Bản tổ chức ngày 4/10.
Bản ghi nhớ nhằm cụ thể hóa và tạo điều kiện cho lao động đặc định Việt Nam sang thực tập và làm việc tại Nhật Bản trong lĩnh vực dịch vụ lưu trú và khách sạn.
Đồng thời, thiết lập khung hợp tác hai bên thúc đẩy các hoạt động, hợp tác trong việc phái cử và tiếp nhận lao động đặc định Việt Nam trong lĩnh vực lưu trú và khách sạn đến nước này.
Tại lễ ký kết, Thứ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội Lê Tấn Dũng cho biết, việc triển khai chương trình trên cơ sở bản thỏa thuận này sẽ mở ra thêm nhiều cơ hội việc làm mới cho lao động có kỹ năng của Việt Nam trong ngành Dịch vụ lưu trú và khách sạn.
Cùng với đó, góp phần gắn kết giữa lao động với đào tạo, giữa thị trường lao động trong nước với thị trường lao động quốc tế nhưng đồng thời, cũng sẽ giúp Nhật Bản giải quyết vấn đề thiếu hụt nguồn nhân lực trong một số ngành quan trọng của nền kinh tế.
Đặc biệt, đây sẽ là động lực để thúc đẩy hơn nữa giao lưu, hợp tác, nhất là trong lĩnh vực hợp tác lao động, đào tạo nghề và chuyển giao công nghệ giữa hai nước.
Theo số liệu thống kê, hiện tại có khoảng trên 30 nghìn lao động kỹ thuật của Việt Nam đang làm việc tại các nhà máy, xí nghiệp của Nhật Bản. Thứ trưởng Lê Tấn Dũng cho rằng, với việc dân số Nhật Bản đang bị già hóa và giảm về số lượng thì nguồn lao động thực tập sinh nước ngoài, lao động kỹ năng đặc định, nhất là từ Việt Nam đang là nguồn bổ sung quan trọng cho sự thiếu hụt nhân lực của nước này trong hầu hết các ngành nghề.
Trước đó, ngày 8/12/2018, Quốc hội Nhật Bản đã thông qua Luật Quản lý xuất nhập cảnh sửa đổi trong đó cho phép tiếp nhận lao động "kỹ năng đặc định" người nước ngoài vào làm việc tại nước này kể từ ngày 1/4/2019.
Các ngành nghề dự kiến và số lượng tiếp nhận cũng đã được Nội các Nhật Bản quy định cụ thể gồm 14 ngành với tổng số lượng 345.150 người sẽ tiếp nhận trong 5 năm.
Cụ thể, ngành xây dựng (40.000 người), đóng tàu (13.000 người), nông nghiệp (36.500 người), thực phẩm ( (34.000 người), nhà hàng ăn uống (53.000 người), ngư nghiệp (9.000 người), vệ sinh tòa nhà (37.000 người), công nghiệp rèn đúc (21.500 người), điện, thông tin điện tử (4.700 người), bảo dưỡng/ sửa chữa ô tô (7.000 người), hàng không phục vụ mặt đất và bốc xếp hành lý (2.200 người), hộ lý chăm sóc người cao tuổi (60.000 người), hàn cơ khí (5.250 người), lưu trú khách sạn (lễ tân, đón khách (22.000 người).
Trên cơ sở bản ghi nhớ này, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đang xây dựng đồng bộ các phương án triển khai như thông tin tuyên truyền sâu rộng để người lao động quan tâm có thể tiếp cận thông tin về chương trình, cũng như hiểu được chính sách pháp luật của hai nước liên quan đến chương trình lao động kỹ năng đặc định.
Cùng với đó, Bộ cũng lựa chọn các doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu đưa lao động kỹ năng đặc định sang làm việc tại Nhật Bản. Hướng dẫn và tạo điều kiện cho doanh nghiệp tìm kiếm các hợp đồng có các điều kiện đãi ngộ tốt đối với lao động kỹ năng đặc định của Việt Nam.
Bên cạnh đó là tăng cường kiểm tra giám sát hoạt động của các doanh nghiệp. Đặc biệt là phối hợp với các cơ quan liên quan của Việt Nam và Nhật Bản để kiên quyết loại bỏ các đối tượng trung gian môi giới, du học trá hình... đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài trái phép.
Ngoài ra, sắp tới, Bộ cũng phối hợp với phía Nhật Bản tổ chức tốt các kỳ thi kiểm tra kỹ năng nghề và ngoại ngữ để người lao động có nguyện vọng và trình độ thể tham gia thi đánh giá trình độ theo quy định của Nhật Bản.
Theo Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, tính đến nay, Việt Nam đã phái cử được trên 250 nghìn thực tập sinh sang tu nghiệp và thực tập tại Nhật Bản.
Riêng năm 2018, tổng số thực tập sinh được phái cử sang Nhật Bản đạt gần 70 nghìn người, chiếm hơn 50% số lượng tiếp nhận của Nhật Bản và Việt Nam đã trở thành quốc gia phái cử nhiều nhất trong số 15 nước phái cử thực tập sinh sang Nhật Bản.
Hiện có gần 200 nghìn thực tập sinh Việt Nam đang thực tập tại Nhật Bản. Ngoài ra, hàng năm, Việt Nam cũng phái cử hàng nghìn kỹ thuật viên sang Nhật Bản theo diện lao động kỹ thuật.




Ngày 7/10, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV tiếp tục ngày làm việc thứ ba, thảo luận về tình hình phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện ngân sách nhà nước năm 2026 và dự kiến kế hoạch năm 2027; cùng nhiều nội dung quan trọng về thu hút nhân tài, hoạt động đầu tư, kinh doanh của đảng viên và công tác xây dựng Đảng.
Sau hơn một năm cả nước vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền theo Nghị quyết 28-NQ/TW trở nên cấp thiết. Điều này nhằm bảo đảm hệ thống chính trị tinh gọn thực sự đi đôi với hiệu lực và hiệu quả.
Hai bên nhất trí khai thác lợi thế địa kinh tế của Việt Nam và Panama, tăng cường kết nối vận tải, logistics, dòng tài chính và chuỗi cung ứng giữa Đông Á với Mỹ Latinh; đồng thời ký kết, trao 9 văn kiện hợp tác trong các lĩnh vực vận tải biển, an ninh, nông nghiệp, du lịch, hải quan, hàng không và đào tạo.
Chiều 6/10, tại Nhà Quốc hội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân chủ trì Lễ đón trọng thể Tổng thống Cộng hòa Panama José Raúl Mulino và Phu nhân, đang thăm chính thức Việt Nam từ ngày 5 đến 8/10/2026.
Trong ngày làm việc thứ hai Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Trung ương tập trung thảo luận nhiều nội dung quan trọng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; công tác cán bộ; thu hút, trọng dụng nhân tài; hoạt động đầu tư, kinh doanh của đảng viên và công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng.
Việt Nam đã vươn lên thành một trong những “cường quốc xuất khẩu” trên thế giới. Tuy nhiên, đằng sau kim ngạch hàng trăm tỷ USD và những dòng hàng hóa đã đi khắp các thị trường, thương hiệu Việt vẫn đang đối mặt với bài toán định vị và nâng cao giá trị trên bản đồ toàn cầu.
Tăng trưởng nhanh sẽ kéo theo những thay đổi lớn. Nếu người dân không được lắng nghe, doanh nghiệp thiếu niềm tin và các nhóm chịu tác động không được hỗ trợ thích đáng, chi phí xã hội của quá trình cải cách sẽ tăng lên.