
Trong văn bản cho ý kiến về khả năng đáp ứng nhu cầu than và điện cho ngành công nghiệp xi măng đến năm 2035 theo đề nghị của Bộ Xây dựng mới đây, Bộ Công Thương cho biết quy hoạch ngành xi măng đang vượt quá khả năng đáp ứng của ngành than.
Về khả năng đáp ứng nhu cầu than sản xuất trong nước cho ngành công nghiệp xi măng, Bộ Công Thương cho biết, theo Quy hoạch phát triển ngành than Việt Nam đến năm 2020, có xét triển vọng đến năm 2030 tại Quyết định số 403/QĐ-TTg (Quy hoạch 403), thì nhu cầu than cho sản xuất xi măng được tính toán trên cơ sở quy hoạch tổng thể phát triển vật liệu xây dựng Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1469.
Theo đó, dự kiến nhu cầu than cho sản xuất xi măng khoảng 6,2 triệu tấn vào năm 2020, khoảng 6,7 triệu tấn vào năm 2025 và 6,9 triệu tấn vào năm 2020; ngành than có thể đáp ứng các chủng loại than sản xuất trong nước phù hợp cho sản xuất xi măng khoảng 2,4 triệu tấn tha vào năm 2020, khoảng 5,3 triệu tấn than vào năm 2025 và khoảng 5,9 triệu tấn than vào năm 2030.
Như vậy, than sản xuất trong nước không đủ để cung cấp cho ngành công nghiệp xi măng trong giai đoạn đến năm 2030.
Ngoài ra, tại công văn số 61/BXD-VLXD ngày 10/1/2018 của Bộ Xây dựng, dự báo nhu cầu than của ngành công nghiệp xi măng cao hơn số liệu dự báo trong Quy hoạch 403. Vì vậy, Bộ Công Thương đã đề nghị Bộ Xây dựng xem xét, tính toán dự báo lại nhu cầu than cho xi măng trong quá trình lập quy hoạch phát triển công nghiệp xi măng Việt Nam đến năm 2025 và định hướng đến năm 2035.
Về khả năng đáp ứng nhu cầu điện cho ngành công nghiệp xi măng, Bộ Công Thương cho biết, với dự báo nhu cầu phụ tải điện và định hướng phát triển nguồn điện, lưới điện tại quyết định số 428 về điều chỉnh Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011-2020 có xét đến năm 2030 (được Chính phủ phê duyệt năm 2016), thì hệ thống điện quốc gia về cơ bản sẽ đảm bảo đáp ứng nhu cầu điện cho phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2030, trong đó bao gồm cả ngành công nghiệp xi măng.
Bộ Công Thương cho biết, việc xác định khả năng đáp ứng nhu cầu than, điện cho ngành công nghiệp xi măng và nhu cầu của các ngành kinh tế khác sau năm 2030 sẽ được tính toán cụ thể trong Quy hoạch phát triển ngành than Việt Nam và Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia trong giai đoạn tiếp theo.
Năm 2017, lượng sản xuất của toàn ngành xi măng ước đạt khoảng 65 triệu tấn, tăng 4 triệu tấn, tăng khoảng 7% so với cùng kì năm trước. Trong đó, sản lượng tiêu thụ xi măng cả năm đạt 62 triệu tấn, tăng 3% so với năm 2016. Năm 2018, ngành xi măng được dự báo sẽ tiếp tục phải đối mặt với cung vượt cầu khoảng 25 - 30%.
Theo Hiệp hội Xi măng Việt Nam (VNCA), nếu tính các dự án đang tiến hành đầu tư, dự kiến hoàn thành trong năm 2018, những nhà máy xi măng đầu tư cải tiến kỹ thuật, công nghệ nâng cao năng lực sản xuất thì thực tế đến năm 2020 tổng công suất có thể lên đến 120 - 130 triệu tấn.
Dự báo tiêu thụ xi măng trong nước đến năm 2020 vào khoảng 82 triệu tấn, nghĩa là sẽ dư thừa 36 - 47 triệu tấn. Số liệu của VNCA cũng ghi nhận, dự báo nhu cầu tiêu thụ trong nước từ nay đến năm 2020 mỗi năm tăng khoảng 5 - 6 triệu tấn và đến năm 2020 nhu cầu tiêu thụ xi măng trong nước khoảng 80 - 82 triệu tấn.




Sở hữu đường bờ biển dài hơn 3.260 km cùng những lợi thế địa kinh tế vượt trội, Việt Nam đang nắm giữ chìa khóa vàng để bứt phá thành một cường quốc kinh tế biển. Tuy nhiên, hành trình vươn khơi của các ngành kinh tế hiện đang vấp phải những rào cản lớn về thể chế quản lý không gian biển...
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang đẩy nhanh việc xây dựng bản đồ ranh giới đất rừng nhằm hỗ trợ nông sản xuất khẩu đáp ứng quy định EUDR. Đồng thời, các ngành hàng như cà phê, cao su cũng cần bản đồ hóa vùng trồng đến từng thửa đất thay vì chỉ dừng ở cơ sở dữ liệu, tạo nền tảng cho việc truy xuất nguồn gốc, đánh giá rủi ro và nâng cao năng lực quản lý vùng nguyên liệu...
Mục tiêu tăng trưởng hai con số không thể đạt được bằng cách dàn hàng ngang các nguồn lực, mà phải bằng những chính sách vi mô thực sự đột phá. Giải phóng năng lực công nghệ AI, nâng tầm thể chế thử nghiệm đặc khu kinh tế, tháo gỡ điểm nghẽn dòng vốn tín dụng và thiết lập hệ thống thuế số minh bạch chính là những bệ phóng vững chắc nhất để đưa nền kinh tế Việt Nam cất cánh trong kỷ nguyên mới…
Mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD không chỉ đòi hỏi tăng kim ngạch, mà còn kiểm chứng khả năng chuyển các Nghị quyết về thể chế, công nghệ... thành năng lực cạnh tranh.
Sự hiện diện của ESFLO MKTING, S.A. de C.V. tại VIS 2026 cho thấy Việt Nam đang trở thành điểm đến ưu tiên của các nhà nhập khẩu Mexico, trong bối cảnh thương mại song phương tăng trưởng mạnh nhờ Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)...
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Theo Ban Quản lý khu kinh tế Hải Phòng, trong việc quy hoạch và định hướng của Thành phố, thay vì chỉ phát triển khu công nghiệp, Hải Phòng đang hướng tới hình thành các chuỗi liên kết giữa khu công nghiệp, logistic, cảng biển, đô thị, dịch vụ theo mô hình của Singapore...