
Kim ngạch nhập khẩu hàng rau quả từ Thái Lan sụt giảm, trong khi nhập khẩu mặt hàng này từ Trung Quốc và Mỹ lại tăng cao, với mức tăng lần lượt 24% và 72%.
Số liệu mới nhất từ Tổng cục Hải quan cho biết, trong tháng 8/2019 Việt Nam đã nhập khẩu 120,44 triệu USD hàng rau quả, giảm 13,5% so với tháng 7/2019.
Tuy nhiên tính chung từ đầu năm đến hết tháng 8/2019 Việt Nam đã nhập 1,26 tỷ USD mặt hàng này, tăng 11,1% so với cùng kỳ năm 2018.
Về thị trường nhập khẩu, Thái Lan vẫn là quốc gia cung cấp rau quả nhiều nhất cho Việt Nam khi chiếm đến 83,72% tổng kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này.
Theo đó, Việt Nam đã nhập khẩu 428,8 triệu USD hàng rau quả từ Thái Lan trong 8 tháng qua, sụt giảm 16,73% so với cùng kỳ năm ngoái.
Riêng tháng 8/2019 Việt Nam cũng đã nhập 7,9 triệu USD hàng rau quả của Thái Lan, giảm mạnh 40,38% so với tháng 7/2019 và giảm 92,17% so với tháng 8/2018.
Thị trường cung cấp rau quả lớn thứ hai cho Việt Nam là Trung Quốc với kim ngạch gần 310 triệu USD trong 8 tháng đầu năm, tăng 23,68% so với cùng kỳ năm 2018.
Ngoài Trung Quốc, Việt Nam còn đẩy mạnh nhập khẩu rau quả từ Mỹ với kim ngạch 188 triệu USD, tăng mạnh 72% so với năm ngoái. Hiện, Mỹ cũng là thị trường cung cấp rau quả nhiều thứ 3 cho Việt Nam.
Ngoài ra, Việt Nam còn nhập khẩu mặt hàng này nhiều từ các thị trường như Australia, Newzeland…
Đáng chú ý, so với cùng kỳ năm trước Việt Nam còn đẩy mạnh nhập khẩu rau quả từ các thị trường mới như Lào, Campuchia, Canada…
Cụ thể, nhập khẩu rau quả từ Campuchia đạt trị giá 31,72 triệu USD; Lào 7,96 triệu USD và Canada 5,63 triệu USD.
Xét về tốc độ tăng trưởng, thị trường Israel có tốc độ tăng trưởng cao nhất với 100,99%, đạt 2,99 triệu USD.
Tiếp đó là thị trường Myanmar với mức tăng 97,79%, đạt 40,52 triệu USD; Chile và Malaysia đều tăng trên 60%.
Ở chiều ngược lại, Việt Nam giảm mạnh nhập khẩu từ Brazil (giảm 17,74%) và Thái Lan (giảm 16,7%).
Chỉ dẫn địa lý không chỉ là “tấm vé thông hành” khẳng định uy tín sản phẩm, mà còn là công cụ nâng cao giá trị đặc sản địa phương. Tuy nhiên, để chuyển hóa lợi thế pháp lý này thành giá trị thương mại bền vững, các địa phương và doanh nghiệp cần vượt qua nhiều điểm nghẽn trong tổ chức sản xuất, kiểm soát chất lượng và xúc tiến thị trường...
Việc xây dựng Nghị quyết về FTZ và ILZ tại TP. Hồ Chí Minh được kỳ vọng tạo thêm động lực cho thương mại, logistics và thu hút đầu tư. Tuy nhiên, cộng đồng doanh nghiệp cho rằng cơ chế mới phải thực sự khác biệt, linh hoạt và có khả năng triển khai nhanh, nếu không FTZ khó tạo ra giá trị mới...
Xuất khẩu cà phê Việt Nam đang đứng trước bài toán nâng giá trị thay vì chỉ gia tăng sản lượng. Với lợi thế lớn về Robusta, việc kiểm soát chất lượng từ vùng nguyên liệu, phân hóa sản phẩm và đổi mới phương thức thu mua được xem là những yêu cầu then chốt để nâng giá trị hạt cà phê...
Thương mại điện tử đang giúp doanh nghiệp Việt tiếp cận trực tiếp người tiêu dùng toàn cầu, trong khi AI, dữ liệu lớn và các nền tảng số có thể làm thay đổi cách xúc tiến thương mại. Tuy nhiên, công nghệ không xóa bỏ những rào cản căn bản của xuất khẩu. Để hàng Việt đi xa, cần kết nối dữ liệu thị trường, tiêu chuẩn, logistics, nền tảng số và nhà mua hàng thành một hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp...
Xuất khẩu phân bón Việt Nam bứt phá mạnh mẽ cả về lượng lẫn giá trị, trong khi nhập khẩu giảm sâu, khẳng định năng lực sản xuất nội địa được nâng cao. Tận dụng tốt nhu cầu quốc tế, các doanh nghiệp đang đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng chủ lực như urê, NPK, DAP để mở rộng thị trường và gia tăng kim ngạch...
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Theo kết quả chấm điểm về giải ngân vốn đầu tư công tháng 8/2026 do Bộ Tài chính vừa công bố, Thanh Hóa nằm trong tốp các tỉnh, thành phố có tốc độ giải ngân đầu tư công rất tốt, xếp thứ 17 trong số 34 tỉnh, thành phố về giải ngân vốn đầu tư công năm 2026; xếp thứ 12 về giải ngân vốn đầu tư công năm 2025 được phép kéo dài sang năm 2026. Kết quả này tiếp tục cho thấy sự chuyển động tích cực trong tổ chức thực hiện, đồng thời tạo thêm động lực để tỉnh khơi thông nguồn lực, tháo gỡ điểm nghẽn, đẩy nhanh tiến độ các dự án, đưa nguồn vốn đầu tư thực sự trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội.