
Việc mở cặp cửa khẩu Chi Ma – Ái Điểm nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, xúc tiến thương mại, buôn bán, trao đổi hàng hóa… của cư dân biên giới giữa hai nước và tăng kim ngạch xuất nhập khẩu của Lạng Sơn.
Thông tin từ Tổng cục Hải quan cho biết, để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội khu vực biên giới, góp phần xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định, hợp tác và phát triển, UBND tỉnh Lạng Sơn phối hợp với phía Trung Quốc mở cặp cửa khẩu Chi Ma - Ái Điểm.
Dự kiến lễ công bố chính thức mở cặp cửa khẩu song phương sẽ được tổ chức vào ngày 10/9 tại khu vực cửa khẩu Chi Ma do UBND tỉnh Lạng Sơn và Chính quyền nhân dân Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây (Trung Quốc ) đồng tổ chức.
Hiện nay, Cửa khẩu Ái Điểm phía Trung Quốc đã được xây dựng cơ sở hạ tầng với quy mô khang trang. Phía Trung Quốc cũng đã bố trí đầy đủ các lực lượng: biên phòng, hải quan và kiểm nghiệm, kiểm dịch đáp ứng các yêu cầu kiểm tra, kiểm soát xuất nhập khẩu hàng hóa tại cửa khẩu.
Về phía Việt Nam, sau khi Quyết định 343/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đồng ý nâng cấp cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn từ cửa khẩu phụ lên cửa khẩu chính, UBND tỉnh Lạng Sơn đã đầu tư kết cấu hạ tầng, đưa vào sử dụng các công trình cơ bản đáp ứng nhu cầu xuất nhập khẩu hàng hóa qua cửa khẩu. Hiện UBND tỉnh Lạng Sơn cũng đã bố trí các lực lượng làm việc tại cửa khẩu gồm: hải quan, biên phòng, kiểm dịch (y tế, động vật, thực vật), kho bạc Nhà nước.
Được biết, thời gian qua tỉnh Lạng Sơn và tỉnh Quảng Tây đã phối hợp chặt chẽ, thông báo cho nhau về tình hình, tiến độ xây dựng các công trình, dự án trọng điểm trong khu vực cửa khẩu Chi Ma - Ái Điểm nhằm cùng nhau thúc đẩy tiến độ, sớm công bố chính thức cặp cửa khẩu song phương này.
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, tổng trị giá hàng hóa xuất nhập khẩu thông quan qua Cục Hải quan Lạng Sơn năm 2017 đạt 4,89 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 2,8 tỷ USD, nhập khẩu đạt 2,1 tỷ USD.
Việc mở cặp cửa khẩu song phương Chi Ma – Ái Điểm là hoạt động quan trọng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, xúc tiến thương mại, buôn bán, trao đổi hàng hóa… của cư dân biên giới giữa hai nước và tăng kim ngạch xuất nhập khẩu của Lạng Sơn.
Trong xu thế chuyển dịch năng lượng toàn cầu, điện gió ngoài khơi đang vượt khỏi phạm vi của một nguồn điện tái tạo để trở thành một ngành công nghiệp mới, kéo theo cả hệ sinh thái từ khảo sát biển, chế tạo kết cấu, cáp và thiết bị điện, cảng biển, tàu dịch vụ, logistics, tài chính, bảo hiểm, đến vận hành, bảo dưỡng và công nghệ số. Để biến những cánh đồng gió ngoài khơi thành động lực tăng trưởng mới, Việt Nam cần đồng thời giải quyết bài toán quy hoạch không gian và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lực công nghiệp ngoài khơi.
Muốn trở thành một quốc gia biển mạnh, Việt Nam không chỉ cần khai thác tốt hơn các nguồn lực từ biển mà còn phải từng bước làm chủ năng lực thiết kế, chế tạo, vận hành và cung cấp công nghệ cho các hoạt động trên biển.
Trong nhiều thập niên đã qua, lợi thế của du lịch biển thường được đo bằng số lượng bãi tắm đẹp hay lượng khách đến mỗi năm. Trong xu thế du lịch ngày càng cạnh tranh, những lợi thế ấy chỉ là điều kiện ban đầu.
Trong tiến trình chuyển dịch năng lượng, dầu khí Việt Nam đang đứng trước một bước ngoặt lớn: giá trị của ngành không còn chỉ được đo bằng sản lượng dầu, khí khai thác được từ lòng biển, mà ngày càng nằm ở năng lực khảo sát, thiết kế, chế tạo, lắp đặt, vận hành, bảo dưỡng, logistics, quản trị an toàn và làm chủ các công trình ngoài khơi. Nếu được nhìn nhận như một nền tảng công nghiệp và công nghệ, những năng lực được tích lũy qua nhiều thập kỷ có thể trở thành bệ phóng để Việt Nam bước vào các chuỗi giá trị mới.
Việt Nam đang sở hữu nguồn lợi hải sản và tài nguyên sinh học biển phong phú, từ nguồn gen, vi sinh vật, rong biển, vi tảo đến lượng lớn thủy sản. Tuy nhiên, lợi thế về sinh khối mới chỉ là điểm khởi đầu. Giá trị lớn hơn nằm ở khả năng phát hiện các hợp chất có hoạt tính sinh học, giải mã cơ chế, phát triển sản phẩm, làm chủ công nghệ tinh chế, tạo tài sản trí tuệ và đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường.
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Theo Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc, xi măng đất sét nung (LC3) là vật liệu xây dựng mới và bền vững. Chi phí đầu tư thấp, thân thiện với môi trường và khí hậu hơn so với xi măng thông thường... việc phát triển, phổ biến xi măng hỗn hợp phù hợp với mục tiêu sản xuất và tiêu dùng bền vững mà Chính phủ đã đề ra.