Bộ Công Thương vừa có thông tin về giá xăng dầu từ chiều 15 giờ ngày 16/1. Theo đó, nhà điều hành quyết định giảm mạnh mức trích lập, tăng mức chi quỹ bình ổn so với kỳ trước để giữ ổn định giá xăng dầu.
Cụ thể, Bộ Công Thương quyết định giữ nguyên mức trích lập 0 đồng/lít với xăng E5RON92, trong khi đó với xăng RON95, dầu diesel, dầu hoả, dầu mazut là 300 đồng/lít/kg trong khi kỳ trước trích lập là 500 - 800 đồng/lít/kg.
Mức chi quỹ bình ổn cũng tăng mạnh: Xăng E5RON92 là 1.462 đồng/lít (kỳ trước chi sử dụng 550 đồng/lít); Xăng RON95: 645 đồng/lít (kỳ trước 0 đồng); Dầu diesel là 430 đồng/lít (kỳ trước là 0 đồng); Dầu hỏa: 295 đồng/lít (kỳ trước là 0 đồng); Dầu mazut: 583 đồng/kg (kỳ trước 0 đồng).
Như vậy, với công cụ Quỹ bình ổn, Bộ Công Thương đã giữ ổn định giá xăng dầu trong kỳ điều chỉnh này dù giá thế giới tăng mạnh. Xăng E5RON92 không cao hơn 16.272 đồng/lít; Xăng RON95-III không cao hơn 17.603 đồng/lít; Dầu diesel 0.05S không cao hơn 14.909 đồng/lít; Dầu hỏa không cao hơn 14.185 đồng/lít; Dầu mazut 180CST 3.5S không cao hơn 13.275 đồng/kg.
Theo Bộ Công Thương, giá thành phẩm xăng dầu thế giới từ đầu năm 2019 đến nay có xu hướng tăng ở mức 9%. Bình quân giá thành phẩm xăng dầu thế giới trong 15 ngày trước ngày 16/1 là 58,473 USD/thùng xăng RON92; 60,492 USD/thùng xăng RON95…tăng 5 USD so với kỳ trước.
Theo Công văn số 638/BTC-QLG của Bộ Tài chính, thuế nhập khẩu bình quân gia quyền áp dụng trong công thức tính giá cơ sở các mặt hàng xăng dầu quý 1/2019 như sau: xăng 10%; dầu diesel 0,85%; dầu hỏa 0,13%; dầu mazut 3,04%.
Tỷ trọng xăng từ nguồn nhập khẩu và nguồn sản xuất trong nước (Nhà máy lọc dầu Dung Quất, Liên hợp lọc hóa dầu Nghi Sơn) để tính thuế tiêu thụ đặc biệt trong giá cơ sở trong quý 1/2019 là 6,83% từ nguồn nhập khẩu và 93,17% từ nguồn sản xuất trong nước.
Trước đó, ngày 1/1/2019, thuế bảo vệ môi trường với xăng dầu đã tăng kịch khung, trong đó riêng xăng thuế này là 4.000 đồng/lít.




Trong xu thế chuyển dịch năng lượng toàn cầu, điện gió ngoài khơi đang vượt khỏi phạm vi của một nguồn điện tái tạo để trở thành một ngành công nghiệp mới, kéo theo cả hệ sinh thái từ khảo sát biển, chế tạo kết cấu, cáp và thiết bị điện, cảng biển, tàu dịch vụ, logistics, tài chính, bảo hiểm, đến vận hành, bảo dưỡng và công nghệ số. Để biến những cánh đồng gió ngoài khơi thành động lực tăng trưởng mới, Việt Nam cần đồng thời giải quyết bài toán quy hoạch không gian và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lực công nghiệp ngoài khơi.
Muốn trở thành một quốc gia biển mạnh, Việt Nam không chỉ cần khai thác tốt hơn các nguồn lực từ biển mà còn phải từng bước làm chủ năng lực thiết kế, chế tạo, vận hành và cung cấp công nghệ cho các hoạt động trên biển.
Trong nhiều thập niên đã qua, lợi thế của du lịch biển thường được đo bằng số lượng bãi tắm đẹp hay lượng khách đến mỗi năm. Trong xu thế du lịch ngày càng cạnh tranh, những lợi thế ấy chỉ là điều kiện ban đầu.
Trong tiến trình chuyển dịch năng lượng, dầu khí Việt Nam đang đứng trước một bước ngoặt lớn: giá trị của ngành không còn chỉ được đo bằng sản lượng dầu, khí khai thác được từ lòng biển, mà ngày càng nằm ở năng lực khảo sát, thiết kế, chế tạo, lắp đặt, vận hành, bảo dưỡng, logistics, quản trị an toàn và làm chủ các công trình ngoài khơi. Nếu được nhìn nhận như một nền tảng công nghiệp và công nghệ, những năng lực được tích lũy qua nhiều thập kỷ có thể trở thành bệ phóng để Việt Nam bước vào các chuỗi giá trị mới.
Việt Nam đang sở hữu nguồn lợi hải sản và tài nguyên sinh học biển phong phú, từ nguồn gen, vi sinh vật, rong biển, vi tảo đến lượng lớn thủy sản. Tuy nhiên, lợi thế về sinh khối mới chỉ là điểm khởi đầu. Giá trị lớn hơn nằm ở khả năng phát hiện các hợp chất có hoạt tính sinh học, giải mã cơ chế, phát triển sản phẩm, làm chủ công nghệ tinh chế, tạo tài sản trí tuệ và đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường.
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 42-2026 phát hành ngày 19/10/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Theo Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc, xi măng đất sét nung (LC3) là vật liệu xây dựng mới và bền vững. Chi phí đầu tư thấp, thân thiện với môi trường và khí hậu hơn so với xi măng thông thường... việc phát triển, phổ biến xi măng hỗn hợp phù hợp với mục tiêu sản xuất và tiêu dùng bền vững mà Chính phủ đã đề ra.