
Thặng dư thương mại trong tháng 3 là 267,75 triệu USD, nâng thặng dư thương mại sang Ấn Độ của cả quý 1/2018 đạt 532,60 triệu USD, mức kỷ lục từ trước đến nay.
Bộ Công Thương dẫn số liệu từ Tổng cục Hải quan cho biết, xuất khẩu từ Việt Nam sang Ấn Độ trong 3 tháng đầu năm 2018 đạt 1,568 tỷ USD, tăng 111% so với cùng kỳ năm trước (743,19 triệu USD).
Trong đó, riêng tháng 3/2018, xuất khẩu từ Việt Nam sang Ấn Độ đạt 637,63 triệu USD, tăng 120% so với cùng kỳ năm 2017 (289,90 triệu USD), và tăng 32,5% so với tháng 2/2018.
Ở chiều ngược lại, nhập khẩu hàng hóa từ Ấn Độ về Việt Nam trong quý 1/2018 đạt 1,04 tỷ USD, tăng nhẹ 2,4% so với năm ngoái. Tuy nhiên, trong tháng 3/2018 nhập khẩu từ Ấn Độ tăng khá cao, ở mức 369,88 triệu USD, tăng 45,7% so với tháng 2/2018.
Tính chung, thặng dư thương mại trong tháng 3 là 267,75 triệu USD, đưa thặng dư thương mại cả quý 1/2018 đạt 532,6 triệu USD, mức kỷ lục từ trước đến nay.
Một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng mạnh gồm máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 481,74 triệu USD, tăng 476,2%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 100,38 triệu USD tăng 360,2%; sản phẩm từ sắt thép tăng 342,2%; than đá tăng 320,8%; sản phẩm mây, tre, cói và thảm tăng 940,7%.
Xuất khẩu điện thoại di động và linh kiện vẫn giữ được đà tăng trưởng tốt, xuất khẩu trong quý 1 đạt 200,17 triệu USD, tăng 99,7%.
Một số ngành hàng nhập khẩu từ Ấn Độ nhiều gồm quặng và khoáng sản khác tăng 187,9%; chất dẻo nguyên liệu tăng 153,8%; linh kiện phụ tùng ôtô tăng 146,7%; giấy các loại tăng 106,6%.
Một số ngành hàng có kim ngạch nhập khẩu lớn đã không còn giữ được tốc độ tăng trưởng như năm trước, ngoại trừ nhập khẩu bông vẫn đạt 154,63 triệu USD, tăng 37,4%.
Còn theo số liệu của Bộ Công Thương Ấn Độ, thương mại song phương Việt Nam - Ấn Độ trong 2 tháng đầu năm 2018 đạt 1,89 tỷ USD tăng 14,2% so với 1,66 tỷ USD cùng kỳ năm trước.
Trong đó, xuất khẩu từ Ấn Độ sang Việt Nam đạt 962,39 triệu USD, giảm 16,58%; Ấn Độ nhập khẩu từ Việt Nam 931,99 triệu USD, tăng 84,52%.




Đại hội đại biểu toàn quốc Liên minh Hợp tác xã Việt Nam lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026-2031 là sự kiện quan trọng trong việc định hướng phát triển khu vực kinh tế tập thể, đặt mục tiêu đến năm 2031 cả nước có 45.000 hợp tác xã, 8 triệu thành viên và đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh...
Diễn biến kinh tế vĩ mô trong tháng 7/2026 và nửa đầu tháng 8/2026 cho thấy dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam của hàng loạt tổ chức tài chính trong nước và quốc tế đã có sự “đảo chiều” đáng chú ý. Không chỉ các dự báo được điều chỉnh tăng, mà đáng lưu ý hơn là biên độ và tốc độ điều chỉnh. Diễn biến này cho thấy nền kinh tế đang đứng trước những cơ hội mới, song đồng thời vẫn phải đối mặt với không ít thách thức đan xen...
Đất nông nghiệp từ lâu được nhìn nhận chủ yếu như tư liệu sản xuất, nhưng những biểu hiện thoái hóa, xói mòn, suy giảm độ phì đang đặt ra yêu cầu thay đổi cách ứng xử. Các chuyên gia cho rằng cần chuyển từ tư duy “quyền đối với đất” sang “quyền của đất”, qua đó đề cao trách nhiệm của con người trong bảo vệ, phục hồi và duy trì sức khỏe đất.
Không chỉ mở rộng, giao thêm thẩm quyền tự chủ đầu tư, kinh doanh cho doanh nghiệp mà còn giao cho Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam là đơn vị chủ lực thay mặt cho Nhà nước để quản lý hợp đồng về dầu khí. Đó là những thay đổi rất lớn từ Luật Dầu khí (sửa đổi) hiện nay.
Ngày 21/8/2026, Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đã ban hành Công điện hỏa tốc số 14/CĐ-TL-ATĐ chỉ đạo các địa phương khu vực Đông Bắc Bộ và từ Thanh Hóa đến Nghệ An triển khai cấp bách các biện pháp bảo đảm an toàn công trình thủy lợi, cấp nước sạch nông thôn và phòng, chống ngập úng sản xuất nông nghiệp trước diễn biến mưa lớn do ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới.
Trong khuôn khổ Diễn đàn “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức, các chuyên gia pháp lý và kinh tế đã đưa ra những góc nhìn sâu sắc về yêu cầu cải cách thể chế, trọng tâm là dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi).
Không chỉ mở rộng, giao thêm thẩm quyền tự chủ đầu tư, kinh doanh cho doanh nghiệp mà còn giao cho Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam là đơn vị chủ lực thay mặt cho Nhà nước để quản lý hợp đồng về dầu khí. Đó là những thay đổi rất lớn từ Luật Dầu khí (sửa đổi) hiện nay.