Các nhà bán lẻ nên làm gì để tận dụng các xu hướng mới trong mua sắm đa kênh?
Hoàng An
08/08/2023
Trong thời đại kỹ thuật số hậu Covid-19, việc thu hút và giữ chân người tiêu dùng đa kênh (tức người mua sắm trên nhiều kênh trực tuyến và trực tiếp khác nhau) càng ngày càng khó do thói quen và sở thích của người tiêu dùng đang thay đổi không ngừng …
Theo Tiến sĩ Alrence S. Halibas, Giảng viên cấp cao ngành Digital Marketing, Đại học RMIT, nghiên cứu gần đây của nhóm tác giả RMIT cho thấy, có hai hành vi dẫu đối lập nhưng lại bổ trợ lẫn nhau đang lên ngôi, đó là showrooming (tìm kiếm tại cửa hàng thực tế rồi mua trực tuyến) và webrooming (tìm kiếm trực tuyến rồi mua tại cửa hàng thực tế).
“Với showrooming, người tiêu dùng ghé thăm một cửa hàng truyền thống thực tế để xem tận mắt và so sánh các sản phẩm, nhưng sau đó sẽ mua sản phẩm trên nền tảng trực tuyến từ một nhà bán lẻ với mức giá thấp hơn”, TS.Alrence nói. Mặc dù showrooming có lợi cho người tiêu dùng, nó có thể gây bất lợi cho nhà bán lẻ. Webrooming đối lập với showrooming ở chỗ khách hàng nghiên cứu sản phẩm trực tuyến nhưng sau đó mua hàng ở một cửa hàng thực tế.
BÁN LẺ ĐA KÊNH THÀNH CHUẨN MỰC MỚI TRONG NGÀNH BÁN LẺ
Tại Việt Nam, các báo cáo chỉ ra rằng xu hướng mua sắm đa kênh tăng mạnh suốt thời kỳ đại dịch, đặc biệt trong lĩnh vực hàng tiêu dùng nhanh (FMCG). Khi người tiêu dùng Việt dần quen với bán lẻ đa kênh, hình thức này cũng dần trở thành chuẩn mực và xu hướng mới trong ngành bán lẻ. “Trong tương lai, các nhà bán lẻ và tiếp thị nên triển khai chiến lược bán lẻ đa kênh tích hợp các kênh truyền thống và kỹ thuật số để mang lại trải nghiệm mua sắm liền mạch cho khách hàng”, TS.Alrence cho biết.
Đầu tiên, các nhà bán lẻ và tiếp thị nên nghiên cứu trải nghiệm khách hàng trên tất cả các kênh và điểm chạm, đồng thời xây dựng chiến lược marketing mang lại trải nghiệm khác biệt cho khách hàng.
Các nhà bán lẻ cần thể hiện tính linh hoạt và nắm bắt các công nghệ mới nổi để đáp ứng kỳ vọng ngày càng cao của khách hàng. Họ có thể cung cấp trải nghiệm mua sắm phong phú trên nền tảng di động bằng cách ứng dụng các công nghệ tiên tiến như thực tế ảo hay thực tế tăng cường, nhận dạng qua tần số vô tuyến (RFID), mã QR, phân tích dự liệu từ hành vi mua sắm trong cửa hàng, metaverse, v.v.
"Qua đó, họ có thể theo dõi chặt chẽ hành trình của người tiêu dùng và quản lý hiệu quả các hành vi showrooming và webrooming", TS. Alrence chia sẻ.
Ví dụ, chuỗi cửa hàng tạp hóa Hema của Alibaba kết hợp hoạt động bán lẻ trực tiếp và trực tuyến, đồng thời kiêm nhiệm thêm chức năng trung tâm phân phối vi mô hoặc trung tâm giải quyết đơn hàng. Khách hàng có thể sử dụng mã vạch để tìm hiểu thông tin sản phẩm. Họ còn có thể thanh toán trực tuyến bằng hệ thống thanh toán của Alibaba hoặc trực tiếp tại các ki-ốt nhận diện khuôn mặt.
Một ví dụ khác là Trải nghiệm bán lẻ kỹ thuật số của Nike – kết hợp liền mạch giữa cửa hàng bán lẻ thực tế, thương mại điện tử và hành trình của khách hàng trên thiết bị di động. Sự pha trộn giữa thực tế và kỹ thuật số tạo ra trải nghiệm khách hàng toàn diện và chân thực hơn.
Cụ thể, các cửa hàng được trang bị những thiết bị cảm ứng đa điểm cho phép nhiều người dùng một lúc có thể tìm kiếm thông tin sản phẩm và các lựa chọn mua hàng trực tuyến. Trải nghiệm này cũng tích hợp ứng dụng dành cho thiết bị di động để hỗ trợ hành trình của khách hàng, màn hình tương tác thông minh để so sánh sản phẩm và kiểm tra số lượng hàng sẵn có, cũng như các ki-ốt kỹ thuật số nơi khách hàng có thể tùy chỉnh và đặt sản phẩm.
“Có thể kỳ vọng rằng các cửa hàng bán lẻ công nghệ cao sẽ xuất hiện tại Việt Nam trong vài năm tới hoặc thậm chí sớm hơn”, TS.Alrence chia sẻ.
TRIỂN KHAI CÁC CHIẾN LƯỢC DÀI HẠN ĐỂ TĂNG TÍNH CẠNH TRANH
Theo TS.Alrence, các nhà bán lẻ cũng nên xem xét triển khai chiến lược đa kênh dài hạn để duy trì sự ưa chuộng của người tiêu dùng và không bị tụt hậu so với đối thủ.
Chiến lược marketing đa kênh không khó - nó chỉ cần mang tính chiến lược và tập trung vào đối tượng người tiêu dùng. Chiến lược đa kênh nên tính đến việc lấy người tiêu dùng làm trung tâm, đồng thời trang bị mạng lưới logistics và chuỗi cung ứng mạnh mẽ cũng như thúc đẩy hợp tác giữa các kênh.
TS.Alrence cũng cho rằng các nhà bán lẻ phải đáp ứng nhu cầu của khách hàng trên tất cả các kênh. Điều này có nghĩa họ cần cung cấp trải nghiệm mua sắm nhất quán và gắn kết bằng sử dụng các kênh khác nhau, cho phép người tiêu dùng lựa chọn kênh họ yêu thích để nghiên cứu sản phẩm, mua hàng và nhận hàng.
“Chẳng hạn, người tiêu dùng ưa chuộng webrooming nên có lựa chọn mua hàng trực tuyến mà không phải chờ giao hàng. Thay vào đó, họ có thể nhận hàng đã mua từ bất kỳ chi nhánh nào gần đó (còn được gọi là click-and-collect hay BOPIS – mua trực tuyến và nhận tại cửa hàng)”, TS.Alrence cho biết.
Tương tự, họ nên có lựa chọn trả lại hàng hóa trong cửa hàng thực tế của nhà bán lẻ ngay cả khi sản phẩm được mua trực tuyến (còn gọi là BORIS – mua trực tuyến và trả lại tại cửa hàng). Các nhà bán lẻ có thể tận dụng hành động trả sản phẩm tại cửa hàng để “cứu vãn” đơn hàng (bằng cách đề xuất các sản phẩm tương tự) và tăng lượng người ghé qua cửa hàng thực tế cũng như tăng tương tác trực tiếp với khách hàng.
Hơn nữa, với tính phổ biến ngày càng tăng của thương mại trên mạng xã hội (social commerce) – tức xu hướng các mạng xã hội trở thành nền tảng để bán sản phẩm và dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng – các nhà bán lẻ cũng nên hướng tới cung cấp trải nghiệm mua hàng liền mạch ở các kênh mạng xã hội.
Có thể kỳ vọng rằng nhiều doanh nghiệp sẽ tiếp tục đổ tiền đầu tư vào các dự án đa kênh để đáp ứng nhu cầu, sở thích và kỳ vọng đang thay đổi của người tiêu dùng. Riêng tại Hoa Kỳ, thị trường giải pháp bán lẻ đa kênh của quốc gia này được dự báo sẽ đạt tốc độ tăng trưởng kép hằng năm là 13,6% trong giai đoạn 2022-2030. "Có thể khẳng định rằng trong thời kỳ hậu đại dịch, bán lẻ đa kênh vẫn sẽ tiếp tục tồn tại”, TS.Alrence khẳng định.
Ứng dụng công nghệ số và AI không chỉ nâng cao trải nghiệm khách hàng qua các kênh tương tác trực tuyến mà còn là chìa khóa giúp ngân hàng tối ưu hóa vận hành và kiểm soát rủi ro hiệu quả...
Khác với mô hình AI truyền thống phụ thuộc chủ yếu vào điện toán đám mây, AI tại biên (Edge AI) cho phép xử lý dữ liệu ngay tại thiết bị hoặc gần nguồn dữ liệu...
AI đã trở thành công cụ phổ biến trong marketing, vì thế lợi thế cạnh tranh không còn nằm ở công nghệ mà chuyển sang năng lực con người và khả năng quản trị AI của doanh nghiệp...
Nếu trước đây doanh nghiệp chủ yếu tìm kiếm lập trình viên AI hoặc chuyên gia dữ liệu, thì nay nhu cầu đang dịch chuyển sang các AI builders - lực lượng có thể kết hợp công nghệ, dữ liệu và nghiệp vụ để xây dựng các AI agent phục vụ từng quy trình cụ thể…
Sinh viên bắt đầu học từ hôm nay nhưng phải 4-5 năm sau mới tốt nghiệp. Vì thế, nếu các trường không dự báo được xu hướng phát triển của thị trường lao động thì rất có thể khi ra trường, ngành học đó đã không còn phù hợp…
Các quy định mới về bảo vệ dữ liệu cá nhân, an ninh mạng và trí tuệ nhân tạo (AI) đang định hình một giai đoạn mới của quản trị số tại Việt Nam. Theo đó, doanh nghiệp cần thay đổi cách tiếp cận, chuyển từ tuân thủ riêng lẻ từng quy định sang quản trị tuân thủ tích hợp giữa dữ liệu và công nghệ...
Sự phục hồi của thị trường công nghệ toàn cầu cùng làn sóng đầu tư mạnh mẽ vào trí tuệ nhân tạo (AI), trung tâm dữ liệu và bán dẫn đang tạo ra động lực tăng trưởng mới cho ngành điện tử Việt Nam…
Cơ chế, chính sách hỗ trợ đang ngày càng hoàn thiện song không phải doanh nghiệp nào cũng nắm bắt thông tin và sẵn sàng tận dụng cơ hội này…
Chỉ khi được bảo đảm bằng kiến trúc công nghệ, các tiêu chuẩn kỹ thuật và khung thể chế phù hợp, dữ liệu mới có thể lưu chuyển an toàn, tạo giá trị kinh tế và trở thành nền tảng cho sự phát triển của kinh tế số và kinh tế AI...
Bộ Khoa học và Công nghệ đang lấy ý kiến đối với Dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục chip chuyên dụng trong một số ngành, lĩnh vực nhà nước ưu tiên đặt hàng…