Điện thoại thay ví tiền: Chuyển đổi số đã thay đổi người Việt ra sao?
Bảo Bình
24/02/2026
Việt Nam không chỉ phát triển thị trường, mà còn chú trọng hoàn thiện khung khổ quản trị số – từ chính sách pháp lý, thiết chế thực thi đến chiến lược về hạ tầng và trí tuệ nhân tạo…
Vào khoảng năm 2018, trong chuyến thăm Việt Nam của ông Nathaniel Gleicher – khi đó là Giám đốc Chính sách Bảo mật An ninh mạng của Meta (Facebook) – tại một hội thảo về an ninh mạng và kinh tế số do Hội Truyền thông số Việt Nam tổ chức, Chủ tịch danh dự của Hội Truyền thông số, ông Lê Doãn Hợp, đã chia sẻ câu chuyện mang nhiều suy ngẫm. Đó là trước đây, nếu ra đường quên ví thì chắc chắn phải quay về lấy; nhưng giờ đây, nếu quên ví vẫn có thể xoay xở được; còn nếu quên điện thoại thì gần như buộc phải quay lại.
TỪ CÂU CHUYỆN “QUÊN VÍ” NĂM 2017 ĐẾN ĐỜI SỐNG SỐ NGÀY NAY
Theo ông Nguyễn Quang Đồng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách và Phát triển Truyền thông – IPS, câu chuyện trên “là một lát cắt rất điển hình cho bước chuyển trong đời sống số của người Việt”.
“Năm 2018, điện thoại đã bắt đầu thay đổi vai trò – từ công cụ liên lạc trở thành nền tảng tích hợp nhiều chức năng thiết yếu. Và giờ đây, mức độ phụ thuộc của người dùng vào chiếc điện thoại còn sâu sắc hơn nhiều”, ông Nguyễn Quang Đồng nói.
Thực tế hiện nay cho thấy, không chỉ ví tiền mà ngay cả thẻ ngân hàng vật lý cũng dần mất đi vị thế trung tâm. Người dân có thể đi lại, thanh toán, giao dịch, làm việc gần như chỉ với một chiếc điện thoại trong tay.
Tại Hà Nội, hệ thống metro đã thí điểm thanh toán không tiếp xúc bằng thẻ Visa tích hợp trên điện thoại. Người dùng chỉ cần chạm thiết bị vào cổng soát vé để di chuyển, không cần mang theo thẻ cứng. Mô hình tương tự cũng đang được áp dụng tại TP.HCM.
Ông Đồng đánh giá: “Nếu so với một đô thị tiên tiến như Singapore, mức độ tiện lợi trong thanh toán giao thông công cộng của Việt Nam hiện nay không còn quá xa. Khoảng cách còn lại chủ yếu là ở những chi tiết kỹ thuật”.
Theo ông, điều đáng chú ý không chỉ là công nghệ, mà là sự thay đổi hành vi: “Khi người dân đã quen với việc mọi thứ có thể thực hiện trên điện thoại, họ sẽ mặc định đó là cách thức bình thường. Đây là thay đổi mang tính văn hóa, chứ không đơn thuần là thay đổi công cụ”.
PHỔ CẬP INTERNET VÀ NỀN KINH TẾ SỐ 40 TỶ USD
Đằng sau sự thay đổi trong thói quen tiêu dùng và thanh toán là một nền tảng hạ tầng số được củng cố liên tục trong suốt thập kỷ qua. Hiện khoảng 85% dân số Việt Nam sử dụng internet, đưa Việt Nam vào nhóm quốc gia có lượng người dùng lớn trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Theo ông Nguyễn Quang Đồng, con số này cho thấy công nghệ số không còn là lĩnh vực của một nhóm nhỏ, mà đã trở thành hạ tầng xã hội cơ bản, giống như điện và nước.
Không chỉ phổ cập về số lượng, chất lượng kết nối cũng được cải thiện rõ rệt. Giai đoạn 2021–2025, tốc độ internet tăng gần gấp bốn lần, đưa Việt Nam vào nhóm bốn quốc gia có tốc độ truy cập nhanh nhất khu vực. Hạ tầng mạnh hơn là điều kiện để thanh toán số, thương mại điện tử và dịch vụ công trực tuyến bứt phá.
Điều quan trọng không chỉ là quy mô 40 tỷ USD mà là việc kinh tế số đã len vào từng lĩnh vực: từ bán lẻ, vận tải, tài chính đến dịch vụ công. Người dân không chỉ tiêu dùng trên nền tảng số, mà còn sống và làm việc trong một hệ sinh thái số.
Theo các báo cáo gần đây, nền kinh tế số Đông Nam Á tiếp tục duy trì đà tăng trưởng mạnh mẽ, trong đó Việt Nam được ghi nhận có quy mô kinh tế số xấp xỉ 40 tỷ USD, đứng thứ ba trong khu vực ASEAN. Đặc biệt, với tốc độ tăng trưởng đạt khoảng 17% so với năm 2024, Việt Nam tiếp tục dẫn đầu ASEAN về tốc độ phát triển kinh tế số.
“Điều quan trọng không chỉ là quy mô 40 tỷ USD”, ông Đồng phân tích, “mà là việc kinh tế số đã len vào từng lĩnh vực: từ bán lẻ, vận tải, tài chính đến dịch vụ công. Người dân không chỉ tiêu dùng trên nền tảng số, mà còn sống và làm việc trong một hệ sinh thái số”.
Song song đó, chính phủ số cũng có bước tiến đáng kể. Theo đánh giá của Liên Hợp Quốc, chỉ số phát triển chính phủ điện tử của Việt Nam tăng từ vị trí 99 năm 2014 lên 71 vào năm 2024, tăng 30 bậc trong hơn một thập kỷ.
Theo ông Đồng, “sự cải thiện này cho thấy Việt Nam không chỉ phát triển thị trường, mà còn chú trọng hoàn thiện khung khổ quản trị số – từ chính sách pháp lý, thiết chế thực thi đến chiến lược về hạ tầng và trí tuệ nhân tạo”.
Chính nền tảng đó đã tạo điều kiện để chiếc điện thoại trở thành “trung tâm điều phối” của đời sống kinh tế – xã hội.
KHI ĐIỆN THOẠI THAY VÍ: THUẬN TIỆN HƠN NHƯNG KHÔNG ÍT THÁCH THỨC
Tuy nhiên, bức tranh chuyển đổi số không chỉ có gam màu sáng. Cùng với sự gia tăng của giao dịch trực tuyến là rủi ro lừa đảo và rò rỉ dữ liệu cá nhân.
Theo khảo sát năm ngoái của tổ chức SAGA, ít nhất 70% người Việt Nam từng bị lừa đảo trực tuyến “tiếp cận” ít nhất một lần mỗi tháng; khoảng 30% cho biết đã từng bị lừa mất tiền.
Ông Nguyễn Quang Đồng nhận định: “Khi mọi giao dịch – từ mua sắm, chuyển tiền đến lưu trữ thông tin cá nhân – đều tập trung trên môi trường số, rủi ro cũng tập trung theo. Điện thoại thay ví đồng nghĩa với việc rủi ro tài chính và dữ liệu cũng nằm trong chiếc điện thoại đó”.
Không gian mạng tại Việt Nam đang dần giảm tính ẩn danh. Điều này giúp tăng mức độ an toàn giao dịch, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu phải cân bằng giữa quản lý và bảo vệ quyền riêng tư"
Để ứng phó, Việt Nam đã đẩy mạnh xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, triển khai căn cước công dân gắn chip và mã số định danh cá nhân. Trong lĩnh vực tài chính, các ngân hàng áp dụng xác thực khuôn mặt với giao dịch chuyển khoản từ 10 triệu đồng trở lên, đối chiếu trực tiếp với cơ sở dữ liệu dân cư.
Các chủ thể bán hàng trên sàn thương mại điện tử phải định danh qua VNeID theo Luật Thương mại điện tử; tài khoản mạng xã hội phải xác thực theo Nghị định 147/2024/NĐ-CP về quản lý internet.
Theo ông Đồng, “không gian mạng tại Việt Nam đang dần giảm tính ẩn danh. Điều này giúp tăng mức độ an toàn giao dịch, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu phải cân bằng giữa quản lý và bảo vệ quyền riêng tư”.
Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo phát triển nhanh, các vấn đề như bảo vệ dữ liệu cá nhân, thiên lệch thuật toán và quyền không bị phân biệt đối xử sẽ ngày càng trở nên quan trọng.
“Mười năm qua là giai đoạn bứt tốc về công nghệ và hạ tầng”, ông Nguyễn Quang Đồng nhận định. “Mười năm tới sẽ là giai đoạn thử thách năng lực quản trị – làm sao để chiếc điện thoại không chỉ là biểu tượng của tiện lợi, mà còn là biểu tượng của một nền kinh tế số an toàn, minh bạch và bền vững”.
"Chúng tôi đã trải qua 6 năm với rất nhiều vấp ngã, rất nhiều lỗi phải sửa, rất nhiều lần phải tái đào tạo nội dung và mô hình, để có thể đóng gói và sẵn sàng chuyển giao công nghệ này..."
Theo Đại sứ Singapore tại Việt Nam, Diễn đàn VSBF góp phần quan trọng xây dựng và mở rộng mạng lưới kết nối cộng đồng doanh nghiệp hai nước, tăng cường quan hệ kinh tế song phương và tạo nền tảng cho các cơ hội hợp tác mới...
Kết hợp với doanh nghiệp và nhà đầu tư để giải quyết bài toán thực tế, các dự án công nghệ sẽ sớm có đầu ra rõ ràng và xác định được nhóm người dùng cụ thể. Chỉ khi sản phẩm được sử dụng và nhận phản hồi thị trường, nhà đầu tư mới có cơ sở để tiếp tục rót vốn và mở rộng quy mô…
Việc có cơ chế tuyển chọn, giao nhiệm vụ và hậu kiểm rõ ràng có thể giúp doanh nghiệp công nghệ chiến lược có thể đi từ cam kết tới thực thi.
AI tiêu tốn nhiều điện song điều quan trọng không phải là AI tiêu thụ bao nhiêu điện mà là giá trị kinh tế mà lượng điện đó tạo ra lớn đến đâu...
Các giải pháp tiềm năng sẽ được kết nối với mạng lưới chuyên gia, cơ quan quản lý, doanh nghiệp, tổ chức hỗ trợ phát triển và nhà đầu tư nhằm hoàn thiện mô hình, thử nghiệm và từng bước mở rộng quy mô…
Nền kinh tế đang thay đổi nhanh chóng do các yếu tố nhân khẩu học, công nghệ và quá trình chuyển đổi số. Vai trò của báo chí rất quan trọng nhằm giúp công chúng hiểu được những biến đổi này...
Sự kết hợp giữa nội dung số, SEO, video ngắn, livestream và mạng lưới nhà sáng tạo nội dung đã biến affiliate marketing thành một phần không thể thiếu trong chiến lược tăng trưởng của doanh nghiệp Việt...
Mô hình Spinoff và công nghệ sâu (Deep-Tech) được xem là "chìa khóa" để Việt Nam giải quyết các bài toán vĩ mô của thị trường và hiện thực hóa mục tiêu tự chủ công nghệ lõi.
Có thể mang lại những dự báo kinh tế theo thời gian thực song sự phát triển của dữ liệu vệ tinh cũng đặt ra nhiều câu hỏi mới về chủ quyền dữ liệu và khung pháp lý...