Công nghệ mở rộng thị trường chăm sóc sức khỏe, sắc đẹp: Bài toán phía sau tăng trưởng
Bảo Bình
03/09/2026
Công nghệ đang mở rộng nhanh thị trường chăm sóc sức khỏe và sắc đẹp, nhưng bài toán đặt ra không chỉ là đưa thêm công nghệ vào sản phẩm, mà còn phải bảo đảm chất lượng, an toàn, hiệu quả và tuân thủ…
Sự phát triển nhanh của AI, công nghệ sinh học, vật liệu mới, thiết bị thông minh và thương mại điện tử đang mở rộng đáng kể không gian phát triển của thị trường chăm sóc sức khỏe, sắc đẹp. Phát biểu tại hội thảo “Tuân thủ quy định – Nâng cao chất lượng – Phát triển thị trường công nghệ chăm sóc sức khỏe và sắc đẹp bền vững”, tổ chức ngày 29/8 tại Bộ Y tế, PGS.TS. Phạm Lê Tuấn, Chủ tịch Hội Quân dân y Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế, cho rằng thị trường chăm sóc sức khỏe và sắc đẹp đang chứng kiến sự phát triển rất nhanh của các sản phẩm, thiết bị, công nghệ và dịch vụ mới.
Hội thảo do Hội Quân dân y Việt Nam phối hợp với Viện Nghiên cứu Khoa học Sức khỏe tổ chức, nhằm thực hiện chương trình phối hợp giữa Hội Quân dân y Việt Nam và Bộ Y tế về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2025–2030.
CÔNG NGHỆ MỞ RỘNG KHÔNG GIAN TĂNG TRƯỞNG
“Khoa học công nghệ, công nghệ sinh học, trí tuệ nhân tạo, vật liệu mới, thiết bị thông minh và thương mại điện tử đang làm thay đổi cách các sản phẩm sức khỏe, sắc đẹp được nghiên cứu, phát triển, sản xuất, cung ứng và tiếp cận người sử dụng”, PGS.TS. Phạm Lê Tuấn nói.
Theo ông, sự thay đổi này mở ra cơ hội lớn cho việc ứng dụng, chuyển giao công nghệ cũng như phát triển doanh nghiệp Việt Nam. Công nghệ không còn chỉ nằm trong phòng nghiên cứu hay dây chuyền sản xuất, mà ngày càng tham gia sâu hơn vào quá trình tạo ra sản phẩm, tiếp cận khách hàng và vận hành doanh nghiệp.
Từ góc độ thị trường, TS. Vũ Việt Anh, Chủ tịch Hội đồng chuyên môn Trung tâm Hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo quốc gia (NSSC), Bộ Khoa học và Công nghệ, đánh giá tiềm năng của lĩnh vực chăm sóc sức khỏe và sắc đẹp là rất lớn.
Theo ông, quy mô lĩnh vực chăm sóc sức khỏe trên thế giới có thể đạt khoảng 9.000 tỷ USD vào năm 2030, trong khi thị trường chăm sóc sắc đẹp cũng có quy mô hơn 3.000 tỷ USD. Tại Việt Nam, thị trường này hiện đang tiến dần tới mức khoảng 3 tỷ USD mỗi năm.
TS. Vũ Việt Anh cho rằng quy mô thị trường càng lớn cũng đồng nghĩa với dư địa lớn hơn cho doanh nghiệp công nghệ, các startup, nhà sản xuất thiết bị và các đơn vị cung cấp dịch vụ tham gia vào chuỗi giá trị.
Tuy nhiên, theo TS. Vũ Việt Anh, không nên nhìn nhận công nghệ đơn thuần qua số lượng dây chuyền, thiết bị hay nền tảng mà doanh nghiệp sở hữu. Giá trị của công nghệ nằm ở khả năng giúp doanh nghiệp làm việc thông minh hơn, từ đó trở thành “bàn đạp” cho tăng trưởng, phát triển sản phẩm và mở rộng quy mô kinh doanh.
Đáng chú ý, ông cho rằng doanh nghiệp cần chuyển từ tư duy “mua công nghệ” sang biến công nghệ thành năng lực. Trong đó, dữ liệu khách hàng là một thành tố quan trọng.
Doanh nghiệp cần hiểu khách hàng của mình là ai, họ mong muốn gì, nhu cầu thay đổi ra sao. AI, theo ông, cũng không nên chỉ được sử dụng để tạo nội dung, hình ảnh hay video, mà cần được khai thác để phân tích phản hồi, nhận diện nguy cơ, dự báo xu hướng và hiểu hành trình của khách hàng.
Công nghệ cũng có thể hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình ra quyết định. Các tương tác của khách hàng như mở email, phản hồi tin nhắn hay thực hiện một hành động trên nền tảng số có thể được ghi nhận, phân tích. Khi dữ liệu cho thấy mức độ quan tâm đủ lớn, hệ thống có thể hỗ trợ doanh nghiệp xác định thời điểm tiếp cận và chốt đơn hàng.
Theo TS. Vũ Việt Anh, quan trọng hơn, công nghệ còn cho phép doanh nghiệp “học lại” từ dữ liệu quá khứ, từ những khách hàng đã từng mua nhưng sau đó không còn mua nữa, cũng như từ đối thủ và những công nghệ mới.
ĐỔI MỚI NHANH NHƯNG PHẢI “PHÁT TRIỂN ĐÚNG”
“Chúng ta phát triển nhanh nhưng phải phát triển đúng. Chúng ta thích đổi mới nhưng đổi mới phải đi cùng khoa học, chất lượng, an toàn, hiệu quả và trách nhiệm”, PGS.TS. Phạm Lê Tuấn nhấn mạnh khi đề cập đến tốc độ công nghệ đi vào thị trường.
Theo ông, vấn đề không nằm ở một vài quy định riêng lẻ hay những khó khăn trước mắt của doanh nghiệp, mà cần nhìn toàn bộ lĩnh vực như một hệ sinh thái. Trong hệ sinh thái đó, nghiên cứu khoa học công nghệ, tiêu chuẩn và chất lượng, đào tạo nhân lực, sản xuất kinh doanh, cung ứng dịch vụ, quản lý nhà nước và bảo vệ người sử dụng có mối quan hệ chặt chẽ.
Từ thực tiễn hoạt động của Hội Quân dân y Việt Nam, ông cho rằng nhu cầu kết nối giữa các chủ thể trong lĩnh vực ngày càng rõ. Doanh nghiệp cần được cập nhật các yêu cầu pháp lý, tiêu chuẩn và chuyên môn; nhà khoa học cần môi trường để kết quả nghiên cứu được đánh giá, chuẩn hóa và chuyển giao; cơ sở đào tạo cần nắm bắt nhu cầu thực tế để đào tạo nhân lực phù hợp, trong khi cơ quan quản lý cần thêm thông tin thực tiễn để chính sách ngày càng rõ ràng và khả thi.
Ở góc độ quản lý nhà nước, Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên cũng nhấn mạnh thị trường chăm sóc sức khỏe, sắc đẹp phát triển phải gắn với tuân thủ pháp luật, nâng cao chất lượng và bảo đảm an toàn, sức khỏe, quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.
Theo Thứ trưởng, nhu cầu chăm sóc sức khỏe, chăm sóc sắc đẹp và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân ngày càng tăng. Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, người dân ngày càng có khả năng tiếp cận nhanh hơn với các sản phẩm, thiết bị và phương pháp mới.
Tuy nhiên, sự phát triển của thị trường cũng đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn đối với công tác quản lý, trách nhiệm của doanh nghiệp và chất lượng của toàn bộ hệ sinh thái cung ứng sản phẩm, công nghệ và dịch vụ.
Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh các sản phẩm sức khỏe, mỹ phẩm, thiết bị và dịch vụ ngày càng được đưa lên môi trường số và thương mại điện tử. Khi tốc độ tiếp cận người tiêu dùng được rút ngắn, nguy cơ thông tin thiếu minh bạch hoặc công dụng bị diễn giải quá mức cũng có thể gia tăng.
TUÂN THỦ LÀ MỘT PHẦN NĂNG LỰC QUẢN TRỊ CỦA DOANH NGHIỆP
Theo các chuyên gia tại hội thảo, tuân thủ vì vậy không nên được nhìn nhận đơn thuần như một nghĩa vụ pháp lý mà cần trở thành một phần trong năng lực quản trị của doanh nghiệp. Hội thảo được tổ chức nhằm tạo diễn đàn kết nối giữa cơ quan quản lý nhà nước, chuyên gia, nhà khoa học, tổ chức nghề nghiệp và cộng đồng doanh nghiệp; đồng thời cập nhật những quy định pháp luật mới, trao đổi khó khăn trong quá trình thực thi và đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực tuân thủ, quản trị chất lượng, bảo vệ người tiêu dùng và phát triển thị trường minh bạch, an toàn.
PGS.TS. Phạm Lê Tuấn cho rằng một thị trường tốt không thể chỉ được đo bằng doanh thu hay số lượng doanh nghiệp. Quan trọng hơn, thị trường phải tạo được niềm tin của người dân vào sản phẩm và dịch vụ, niềm tin của doanh nghiệp vào môi trường phát triển, niềm tin của nhà khoa học rằng kết quả nghiên cứu có thể được ứng dụng và niềm tin của xã hội rằng đổi mới công nghệ cuối cùng phải phục vụ con người.
Đây cũng là lý do yêu cầu liên kết giữa các chủ thể ngày càng trở nên quan trọng. Doanh nghiệp phải chủ động tuân thủ; nhà khoa học cần gắn nghiên cứu với nhu cầu thực tiễn; cơ sở đào tạo phải đáp ứng yêu cầu mới của thị trường; cơ quan quản lý tiếp tục hoàn thiện hướng dẫn và phương thức quản lý; còn các tổ chức nghề nghiệp, viện nghiên cứu đóng vai trò kết nối.
“Một công nghệ tốt nhưng không có bằng chứng phù hợp thì khó tạo được niềm tin. Một sản phẩm có tiềm năng nhưng không đáp ứng yêu cầu về chất lượng và pháp lý thì khó phát triển bền vững. Một doanh nghiệp muốn làm đúng nhưng thiếu thông tin, thiếu năng lực kiểm soát, hoặc gặp những điểm nghẽn trong quá trình đưa sản phẩm ra thị trường, cũng cần được hỗ trợ. Và một hệ thống quản lý hiệu quả không chỉ là xử lý vi phạm, mà còn phải giúp các chủ thể hiểu đúng, làm đúng và chủ động phòng ngừa rủi ro”, PGS.TS. Phạm Lê Tuấn nói.
Theo PGS.TS. Phạm Lê Tuấn, mục tiêu cuối cùng là hình thành một hệ sinh thái trong đó đổi mới đi cùng trách nhiệm, phát triển đi cùng chất lượng và thị trường đi cùng sự minh bạch.
Công nghệ đang mở rộng nhanh thị trường chăm sóc sức khỏe và sắc đẹp, nhưng bài toán đặt ra không chỉ là đưa thêm công nghệ vào sản phẩm, mà còn phải bảo đảm chất lượng, an toàn, hiệu quả và tuân thủ…
Việt Nam đã bắt đầu hình thành những ứng dụng UAV thực tế trong nông nghiệp, y tế, đô thị, điện lực, viễn thông, song hệ sinh thái vẫn còn nhỏ và phần lớn đang thử nghiệm…
Công ước 193 có giá trị tham khảo lớn đối với quá trình hoàn thiện chính sách tại Việt Nam, nhất là với tài xế công nghệ, người giao hàng, freelancer và những người làm việc qua ứng dụng…
Đối với doanh nghiệp công nghệ bắt nguồn từ nghiên cứu, khả năng tiếp cận khách hàng, doanh nghiệp, đối tác công nghiệp và thị trường quốc tế mới quyết định công nghệ có thể phát triển thành doanh nghiệp quy mô lớn hay không…
Phụ nữ có thể chiếm tỷ lệ đáng kể ở đầu vào của các ngành STEM, nhưng sự hiện diện này không phải lúc nào cũng được duy trì khi bước lên những nấc cao hơn của thị trường công nghệ…
Khi sự tiện ích và thấu cảm của trí tuệ nhân tạo (AI) vô tình biến công nghệ này thành một "tri kỷ ảo", các doanh nghiệp Việt cũng đồng thời phải đối mặt với những góc khuất rủi ro bảo mật và những bài toán về an ninh mạng chưa có tiền lệ.
Các doanh nghiệp tạo tác động xã hội (SIB) tại Việt Nam đang cho thấy tác động tích cực về xã hội và môi trường có thể tạo ra giá trị kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh và mở ra những cơ hội thị trường mới…
The WISE Talk số 21 với chủ đề "An ninh mạng trong kỷ nguyên AI" được phát sóng trên trang chủ và Fanpage của VnEconomy vào 14:00, ngày 20/08/2026.
Theo Báo cáo của ILO, khoảng 11,5 triệu lao động tại Việt Nam, tương đương 1/5 lực lượng lao động, đang làm những công việc có khả năng chịu tác động của AI tạo sinh…
Trong bức tranh kinh doanh hiện đại, trí tuệ nhân tạo (AI) đang được ví như một động cơ siêu tốc, thúc đẩy mọi doanh nghiệp chuyển mình. Thế nhưng, đằng sau sự hào nhoáng của những cơ hội tăng trưởng ấy lại là một thực tế đáng báo động…