“Cửa sáng” của Việt Nam trong cuộc đua bán dẫn toàn cầu
Bảo Bình
23/04/2026
Trước làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng công nghệ cao, các chuyên gia đầu ngành khẳng định Việt Nam hoàn toàn có khả năng tạo dấu ấn trong lĩnh vực bán dẫn và vật liệu mới…
Tuy nhiên, để hiện thực hóa tầm nhìn này, cần một tư duy phát triển đột phá, chuyển từ đầu tư dàn trải sang tập trung nguồn lực chiến lược.
TÌM CƠ HỘI TRONG CÁC CẤU TRÚC VẬT LIỆU MỚI
Chia sẻ tại Hội nghị Khoa học về “Sản xuất chip bán dẫn - Từ nguyên liệu đến thành phẩm” trong khuôn khổ Triển lãm analytica Hanoi 2026 sáng 22/4, Giáo sư Phan Mạnh Hưởng, Giám đốc Khoa học, Trung tâm Đổi mới Công nghệ Vật liệu (VinUni), cho rằng đối với tư duy phát triển khoa học và công nghệ, Việt Nam nên tập trung vào hai hướng song song để tối ưu hóa nguồn lực.
Trong đó, thứ nhất là đầu tư cho các nghiên cứu có tiềm năng ứng dụng lớn dựa trên nền tảng nghiên cứu cơ bản. Thứ hai là triển khai ngay các nghiên cứu tiền ứng dụng hoặc các công nghệ tiên tiến có khả năng cạnh tranh cao trong ngắn hạn.
Các trường đại học và nhóm nghiên cứu lớn tại Trung Quốc đang đầu tư rất mạnh vào vật liệu 2D. Mới đây, họ đã trình làng kỹ thuật giúp sản xuất vật liệu kim loại 2D ở quy mô lớn với độ ổn định vượt trội.
Đặc biệt, Giáo sư Phan Mạnh Hưởng đặt kỳ vọng lớn vào vật liệu 2D – lĩnh vực được coi là tương lai của công nghệ. Dù lộ trình từ phòng thí nghiệm đến thị trường có thể kéo dài, nhưng Giáo sư Hưởng khẳng định Việt Nam cần bắt đầu ngay lập tức. Ông dẫn chứng: "Các nhà khoa học Việt Nam đã chứng minh được năng lực ở cấp độ quốc tế. Chính nhóm nghiên cứu của chúng tôi là một trong những đơn vị đầu tiên đã chứng minh được các hiệu ứng với tính năng đặc biệt trên vật liệu mới”.
Giáo sư cũng chia sẻ thêm rằng hiện nay, các trường đại học và nhóm nghiên cứu lớn tại Trung Quốc đang đầu tư rất mạnh vào vật liệu 2D. Điển hình là nghiên cứu công bố trên tạp chí Nature vào đầu năm 2025, các nhà khoa học Trung Quốc đã trình làng kỹ thuật giúp sản xuất vật liệu kim loại 2D ở quy mô lớn với độ ổn định vượt trội. Đây là minh chứng cho thấy công nghệ 2D đã bắt đầu bước ra khỏi phòng thí nghiệm để tiến gần hơn đến dây chuyền sản xuất hàng loạt.
Giáo sư Hưởng tin rằng về mặt phát triển khoa học và công nghệ, đặc biệt trong các hệ vật liệu mới, Việt Nam hoàn toàn có khả năng cạnh tranh và cạnh tranh tốt. Tuy nhiên, điều kiện tiên quyết là cần có sự đầu tư tập trung, dài hạn từ phía Chính phủ cho các hướng nghiên cứu mang tính chiến lược.
CHUYỂN TỪ ĐẦU TƯ DÀN TRẢI SANG TẬP TRUNG NGUỒN LỰC
Đồng quan điểm, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trần Thuật, Viện trưởng Viện Bán dẫn và Vật liệu tiên tiến, Đại học Quốc gia Hà Nội, nhận định Việt Nam sẽ rất khó cạnh tranh nếu đi vào các lộ trình dựa trên vật liệu silicon truyền thống hay chạy đua theo các tiến trình công nghệ cực hạn như 3nm, 2nm mà thế giới đã đi trước.
"Cơ hội của chúng ta nằm ở những vật liệu mới như vật liệu 2D. Khi tìm ra được các ứng dụng hoặc cấu trúc linh kiện mới có khả năng sản xuất thực tế, đó sẽ là hướng đi khả thi để tạo dấu ấn", PGS.TS Nguyễn Trần Thuật phân tích. Tuy nhiên, ông cũng thẳng thắn thừa nhận khoảng cách từ nghiên cứu đến sản phẩm thương mại là một thách thức lớn, đòi hỏi nỗ lực của cả tập thể thay vì các cá nhân hay tổ chức riêng lẻ.
Bên cạnh đó, một trong những rào cản lớn nhất hiện nay được Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Ái Việt, Viện trưởng Viện Công nghệ và Giáo dục trí tuệ tổng quát mới IGNITE, chỉ rõ là tình trạng phân bổ nguồn lực dàn trải.
Ông chia sẻ thực trạng trước đây kinh phí thường được chia nhỏ cho nhiều đơn vị, dẫn đến thiếu sức mạnh tổng thể. "Nguồn lực con người bị phân tán”, PGS.TS Nguyễn Ái Việt nói. “Chúng ta cần những dự án lớn, mang tính trọng điểm quốc gia, tập trung cả về nhân lực và tài chính để giải quyết dứt điểm những bài toán quan trọng thay vì tiếp tục làm nhỏ lẻ”, ông kiến nghị.
CƠ HỘI ĐỂ NHỮNG QUỐC GIA NHƯ VIỆT NAM THAM GIA HỆ SINH THÁI
Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam / VnEconomy bên lề Triển lãm analytica Hanoi 2026, ông Michael Wilton, CEO và Tổng Giám đốc, Messe Muenchen International Asia Pte. Ltd, cho biết ngành công nghiệp bán dẫn đóng vai trò rất quan trọng đối với nhiều quốc gia, đặc biệt là ở khu vực Đông Nam Á, trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu ngày càng phụ thuộc vào nhiều nguồn cung khác nhau. Ông Michael Wilton cho rằng các sản phẩm điện tử đều cần nhiều loại chip và linh kiện khác nhau. Vì vậy, đây là cơ hội để những quốc gia như Việt Nam tham gia bổ trợ cho hệ sinh thái.
Các sản phẩm điện tử đều cần nhiều loại chip và linh kiện khác nhau. Đây là cơ hội để những quốc gia như Việt Nam tham gia bổ trợ cho hệ sinh thái.
Đánh giá về tiềm năng của ngành bán dẫn tại Việt Nam, đại diện Messe Muenchen International Asia cho rằng điều này phụ thuộc vào từng khâu cụ thể trong chuỗi giá trị, bao gồm thiết kế, sản xuất hay chế tạo, cũng như cấp độ công nghệ của sản phẩm. Ông nhấn mạnh cách tiếp cận cần mang tính tổng thể hơn trong bối cảnh khu vực Đông Nam Á đang đóng vai trò ngày càng quan trọng.
Nhìn từ góc độ quốc tế, Giáo sư Nguyễn Đức Hòa, Phó Hiệu trưởng, Trường Vật liệu, Đại học Bách Khoa Hà Nội, gợi ý Việt Nam có thể tham khảo mô hình của châu Âu trong việc xây dựng các trung tâm đổi mới sáng tạo quy mô lớn. Đây là nơi xã hội hóa đầu tư, tạo hạ tầng dùng chung để vừa đào tạo nhân lực, vừa phục vụ nghiên cứu và sản xuất. Ông cho biết nhiều quốc gia hiện nay đều đang hỗ trợ mạnh cho lĩnh vực bán dẫn, từ nghiên cứu, thiết kế đến sản xuất.
Về mặt kỹ thuật, Giáo sư Hòa cho rằng không nhất thiết phải chạy đua ngay vào những thiết bị đắt đỏ nhất. Thay vào đó, có thể tận dụng công nghệ hiện có kết hợp với sáng tạo trong thiết kế để tối ưu hóa hiệu năng và giảm chi phí.
Theo các chuyên gia, Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để gia nhập chuỗi giá trị bán dẫn toàn cầu. Tuy nhiên, để giấc mơ này trở thành hiện thực, sự đồng bộ giữa chính sách của Chính phủ, hạ tầng kỹ thuật và chiến lược đào tạo con người là điều kiện tiên quyết. Một sự đầu tư tập trung và dài hạn cho các hướng nghiên cứu chiến lược ngay từ hôm nay sẽ là chìa khóa để Việt Nam tự tin cạnh tranh trên bản đồ công nghệ thế giới.
"Yếu tố con người vẫn là nền tảng. Người Việt Nam có khả năng tiếp cận nhanh với công nghệ mới. Nếu được đào tạo đúng hướng, họ có thể tham gia sâu vào các công đoạn quan trọng như đóng gói tiên tiến – một lĩnh vực rất tiềm năng cho các quốc gia đang phát triển”, Giáo sư Nguyễn Đức Hòa nhận định.
Trước làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng công nghệ cao, các chuyên gia đầu ngành khẳng định Việt Nam hoàn toàn có khả năng tạo dấu ấn trong lĩnh vực bán dẫn và vật liệu mới…
AI, robot tự hành và mô hình "nhà máy không ánh đèn" (Dark Factory) không còn là khái niệm xa vời với ngành logistics mà đang hiện diện ngay tại Việt Nam…
Năm 2026, nhiều doanh nghiệp đã chuyển từ thử nghiệm sang triển khai trí tuệ nhân tạo (AI) trong thực tế. Tuy nhiên, khoảng cách giữa “ứng dụng AI” và “tạo ra tác động kinh doanh” vẫn còn lớn…
Việt Nam được đánh giá không chỉ là một thị trường tăng trưởng nhanh, mà còn là một quốc gia có năng lực khoa học ngày càng phát triển và tầm ảnh hưởng trong khu vực...
The Wise Talk số 18 với chủ đề “Agentic AI & Hệ Gene: Bước ngoặt cho y học chính xác” được phát sóng trên trang chủ của VnEconomy vào 14:00 ngày 22/04/2026.
Việt Nam chưa phải là một trong nhóm các quốc gia có hệ thống trung tâm dữ liệu AI lớn nhất thế giới. Tiến sĩ Lê Quang Đạm cho rằng nếu chạy theo quy mô, chúng ta sẽ phải cạnh tranh trực tiếp với những thị trường có lợi thế vượt trội về vốn, công nghệ và năng lượng…
Sự giao thoa giữa Agentic AI và Hệ gene đang tạo nên một 'cú hích' lịch sử, định nghĩa lại khái niệm chăm sóc sức khỏe trên toàn cầu và tại Việt Nam. Không chỉ dừng lại ở vai trò hỗ trợ, trí tuệ nhân tạo thế hệ mới giờ đây đóng vai trò như một cộng sự tự chủ, có khả năng xử lý những tầng dữ liệu di truyền phức tạp để mở ra những bước ngoặt thực thụ cho nền y học chính xác...
Sự xuất hiện của các mô hình như OpenClaw đánh dấu bước chuyển từ AI hỗ trợ sang AI tự thực thi (AI Agent). Tại Việt Nam, xu hướng này mở ra cơ hội “siêu tự động hóa” cho doanh nghiệp, đồng thời đặt ra thách thức mới về quản trị rủi ro và bảo mật dữ liệu…
Theo Báo cáo “Khảo sát năng lực kỹ thuật số của người khuyết tật tại Việt Nam”, hơn một nửa số người tham gia chưa tiếp cận hiệu quả với AI – dấu hiệu cho thấy nguy cơ hình thành một “khoảng cách số mới…
Khoảng cách lớn về nhận thức cùng sự thiếu hụt nhân sự chuyên trách có thể biến cơ hội từ dữ liệu của doanh nghiệp Việt trở thành rủi ro vi phạm…