
Nhật Bản là thị trường nhập khẩu khó tính tại châu Á, nhất là với các sản phẩm thủy sản như cá tra. Tuy nhiên đáng quan tâm là thị trường "khó tính" này đã chính thức trở thành một trong 10 thị trường lớn nhất đón nhận cá tra Việt Nam.
Năm 2018 đánh dấu sự tăng trưởng xuất khẩu cá tra Việt Nam sang thị trường Nhật Bản với tổng giá trị xuất khẩu tăng 37,6% so với 2017. Không chỉ vậy, 4 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang Nhật Bản gia tăng mạnh, đưa Nhật Bản chính thức vào top 10 thị trường nhập khẩu cá tra lớn nhất của Việt Nam.
Lần đầu có tên trong top 10
Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam (Vasep), tháng 4/2019 kim ngạch xuất khẩu cá tra ước đạt 136,54 triệu USD, so với tháng 4/2018 giảm 15,3%, nhưng cộng dồn 4 tháng ước đạt 609 triệu USD, tăng 4,2% so với cùng kỳ 2018.
Đứng đầu top 10 thị trường nhập khẩu cá tra Việt Nam vẫn là Trung Quốc. Theo đó, xuất khẩu cá tra sang thị trường Trung Quốc ước đạt 136,9 triệu USD, giảm 3,9% so với cùng kỳ 2018; thị trường EU đứng thứ hai đạt 95 triệu USD, tăng 39,7% so với cùng kỳ; thị trường Hoa Kỳ đứng thứ 3 với 87,15 triệu USD, giảm 13,8% so cùng kỳ 2018.
Điều đáng quan tâm là từ trước đến nay Nhật Bản chưa lần nào lọt vào top 10 thị trường nhập khẩu lớn cá tra Việt Nam. Theo Vasep, lần này Nhật Bản được xếp ở vị trí thứ 8 trong top 10 với giá trị xuất khẩu cá tra ước đạt 11,54 triệu USD, tăng 61,5% so với cùng kỳ 2018. Con số này còn cao hơn giá trị xuất khẩu sang các thị trường được đánh giá cao và tiềm năng là UAE, Ai Cập, Đức hay Bỉ.
Đây là một kết quả gây chú ý tại các thị trường xuất khẩu thủy sản lớn của Việt Nam, bởi trước đây người tiêu dùng Nhật Bản không "sẵn lòng" với thủy sản nuôi mà chỉ thích nhập hải sản từ biển. Sự thay đổi này cho thấy cá tra Việt Nam đang dần khám phá những "bí mật" về thị hiếu tiêu thụ tại thị trường khó tính này.
Năm 2011, giá trị xuất khẩu cá tra sang thị trường Nhật Bản chỉ đạt 2,56 triệu USD, chiếm 0,14% tổng giá trị xuất khẩu cá tra. Đây là một con số rất khiêm tốn trong tỷ trọng xuất khẩu cá tra của Việt Nam. Tuy nhiên, sau 7-8 năm sau (2017-2018), giá trị xuất khẩu cá tra Việt Nam sang thị trường Nhật Bản đã tăng lần lượt 9 lần và 12 lần so với năm 2011.
Khai thác tốt các ưu đãi từ các FTA
Năm 2008, khi Hiệp định Đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản (VJEPA) được ký kết ngày 25/12 và có hiệu lực từ 1/10/2009. Đây là hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương đầu tiên của Việt Nam, trong đó hai nước đã dành nhiều ưu đãi cho nhau hơn so với FTA ASEAN - Nhật Bản.
Về cam kết chung, trong vòng 10 năm kể từ khi thực hiện hiệp định, Việt Nam cam kết tự do hoá với khoảng 87,66% kim ngạch thương mại và Nhật Bản cam kết tự do hoá đối với 94,53% kim ngạch thương mại. Cũng trong thời gian này, thương mại cá tra Việt Nam - Nhật Bản hầu như chưa có gì nổi bật.
Tuy nhiên, kể từ tháng 4/2019, theo biểu thuế EPA của hải quan Nhật Bản, sản phẩm cá da trơn phile tươi, ướp lạnh (trong đó có cá tra) nhập khẩu vào thị trường này từ Thái Lan, Mexico, Chile, Philippines được miễn thuế nhập khẩu, từ ASEAN áp mức thuế 3,5%, còn từ thị trường các nước CPTPP được miễn thuế.
Riêng sản phẩm xuất khẩu cá tra phile đông lạnh chủ lực của Việt Nam được miễn thuế hoàn toàn nhập khẩu vào thị trường Nhật Bản. Với hai FTA trước là Việt Nam - Nhật Bản và ASEAN - Nhật Bản, một số mặt hàng thủy sản của Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản đã được xóa bỏ rào cản thuế quan.
Với Hiệp định CPTPP, một số mặt hàng thủy sản sẽ được hưởng thuế suất 0% ngay khi hiệp định có hiệu lực, bao gồm sản phẩm cá tra được miễn thuế ngay lập tức, từ mức 3,5-10,5% hiện tại. Như vậy, với thuận lợi từ 3 FTA với Nhật Bản, doanh nghiệp xuất khẩu cá tra có thêm nhiều cơ hội để gia tăng hơn nữa hoạt động cá tra sang thị trường Nhật Bản.
Do thị hiếu của người Nhật là sợ mùi tanh nồng của sản phẩm cá nước ngọt và những định kiến chưa đúng về so sánh tương quan chất lượng giữa cá nuôi nước ngọt và cá nuôi hoặc khai thác từ biển nên trong quá khứ, người Nhật ít khi "mở lòng" với sản phẩm cá nước ngọt nhập khẩu.
Tuy nhiên, có nhiều doanh nghiệp cá tra đã bắt đầu "quen" và "hiểu" được thị hiếu tiêu dùng thủy sản của người Nhật. Bằng những con số thống kê về mức tăng trưởng lạc quan xuất khẩu cá tra sang thị trường Nhật Bản, Vasep cho rằng còn nhiều tiềm năng hơn nữa cho các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra muốn chinh phục và khai thác thị trường này sau khi Nhật Bản chính thức bước vào top 10 thị trường xuất khẩu cá tra lớn nhất của Việt Nam.




FDI không phải là mục tiêu của chính sách phát triển, mà là một trong nhiều nguồn lực phục vụ cho mục tiêu nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế. Khi các nguồn lực quốc gia ngày càng hữu hạn, mọi chính sách ưu đãi, mọi quyết định phân bổ đất đai, hạ tầng, năng lượng hay dữ liệu đều cần hướng đến giá trị dài hạn mà nền kinh tế nhận được...
Sau gần 40 năm mở cửa, FDI vẫn là một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, khi quy mô nền kinh tế đã thay đổi và các nguồn lực phát triển ngày càng tiệm cận giới hạn, câu hỏi đặt ra lúc này là đã đến lúc nhìn nhận đúng vai trò của FDI trong chiến lược phát triển quốc gia...
Tháng 6/2026, TKV khai thác 3,3 triệu tấn than nguyên khai, nâng sản lượng 6 tháng lên 19,6 triệu tấn. Tuy nhiên, sang tháng 7, Tập đoàn chủ động giảm sản lượng khai thác và tiêu thụ do nhu cầu than cho điện thấp hơn khi bước vào mùa mưa...
Sự tham gia đông đảo của nhiều đoàn doanh nghiệp, nhà nhập khẩu, hiệp hội ngành hàng và các đơn vị logistics Hoa Kỳ, Brazil cùng các đối tác thương mại ở khu vực châu Mỹ tại VIS 2026 cho thấy sự quan tâm rất lớn đối với hàng hóa Việt Nam. Điều này tiếp tục khẳng định sức hấp dẫn của Việt Nam như một trung tâm cung ứng quan trọng trong chuỗi giá trị toàn cầu...
Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), trong 6 tháng đầu năm 2026, GDP của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,87%, đóng góp 5,66% vào tổng GDP của cả nước. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, ngành nông nghiệp cũng đối mặt với nhiều thách thức cần giải quyết để duy trì đà phát triển bền vững...
Nhìn lại di sản và thành tựu của Thời báo Kinh tế Việt Nam (nay là Tạp chí Kinh tế Việt Nam) trong 35 năm qua, giá trị lớn nhất không chỉ đo bằng lượng thông tin phục vụ bạn đọc hàng ngày, hàng giờ, cũng không chỉ ở tên gọi và số lượng các ấn phấm báo chí đã phát hành, mà còn được thể hiện ở tư duy bứt phá của những thế hệ lãnh đạo được giao nhiệm vụ thực hiện sứ mệnh phát triển “dòng thông tin kinh tế phục vụ công cuộc kiến tạo và phát triển đất nước”.
Trong bối cảnh tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, xung đột vũ trang tại Trung Đông kéo dài tác động tiêu cực đến chuỗi cung ứng, giá năng lượng, hàng hóa, chi phí vận tải và thương mại quốc tế... GDP sáu tháng đầu năm 2026 của nước ta vẫn tăng tới 8,18%. Khu vực 2 là động lực chính cho GDP đạt con số trên.