Nếu bạn tìm đến một cốc whey protein sau một buổi tập tạ nặng tại phòng tập thể dục,nó có thể không thực sự giúp phục hồi cơ bắp như bạn nghĩ.

Nếu bạn tìm đến một cốc whey protein sau một buổi tập tạ nặng tại phòng tập thể dục,nó có thể không thực sự giúp phục hồi cơ bắp như bạn nghĩ.

Nếu bạn là người mới tập gym, chơi thể thao nhiều để mong có một vóc dáng 6 múi, cơ bắp cuồn cuộn thì chắc hẳn sẽ có nhiều người khuyên bạn nên uống whey protein. Whey protein là một loạt thực phẩm được làm từ quá trình chuyển hóa sữa thành phô mai. Ở dạng cô đặc whey protein là nguồn cung cấp chất đạm tốt nhất so với những loại thực phẩm thông thường khác. Chúng là nguồn bổ sung các amino acid tốt nhất để duy trì và phát triển cơ bắp cho gymer.

Whey protein là 1 trong hai thành phần cấu tạo trong sữa và chúng chiếm khoảng 20% lượng protein trong sữa còn là casein. Khi vào trong cơ thể chúng được hấp thu và chuyển hóa một cách nhanh chóng từ đó bổ sung năng lượng cho cơ thể.

Whey protein không thực sự giúp phục hồi cơ bắp? - Ảnh 1.
Từ xưa đến nay, những người tập thể hình đều cho rằng whey Protein giúp người tập gym nạp thêm vào cơ thể nhiều protein hơn để cung cấp năng lượng ngoài chế độ ăn thông thường. Chúng giúp cơ thể có đủ chất dinh dưỡng để xây dựng và phát triển cơ bắp, đồng thời giúp làm giảm đau nhức, tăng tốc độ phục hồi và giúp sửa chữa các cơ bị rách trong quá trình tập tạ... Tuy nhiên, một nghiên cứu mới đây của Đại học Lincoln (Anh) cho thấy, việc uống whey protein sẽ không thực sự hiệu quả cho việc tái tạo và đẩy mạnh phục hồi cơ bắp.

Tham gia vào nghiên cứu của Đại học Lincoln có tổng cộng 30 nam thanh niên từ 20 – 30 tuổi với ít nhất một năm tập tạ. Sau đó, họ được chia thành 3 nhóm nhỏ với mỗi nhóm được chỉ định uống một loại thức uống là nước giàu carbohydrate, sữa và bột whey sau khi tập luyện.

Sau khi tập luyện, những người tham gia sẽ được kiểm tra lại và yêu cầu đánh giá mức độ đau nhức cơ bắp của họ theo thang điểm từ 0 (không đau nhức) đến 200 (tình trạng đau nhức tồi tệ nhất có thể). Các nhà nghiên cứu cũng yêu cầu những người tham gia hoàn thành một loạt các bài đánh giá sức khỏe như ném bóng tạ khi ngồi, nhảy cao từ tư thế ngồi xổm.

Whey protein không thực sự giúp phục hồi cơ bắp? - Ảnh 2.
Khi bắt đầu nghiên cứu, đa phần những người tham gia đều đánh giá mức độ đau nhức cơ bắp trong khoảng từ 19 đến 26, một số thấp hơn. Sau đó, họ sẽ đánh giá lại trong vòng 24 và 48 giờ sau buổi tập tạ. Tất cả những người tham gia đánh giá mức độ đau trên 90, mức khá cao. Bên cạnh đó, những người tham gia đều cho thấy sự giảm sức mạnh và chức năng cơ bắp trong các bài đánh giá sức khỏe.

Tuy nhiên, không có sự khác biệt về đáp ứng phục hồi và đau nhức giữa ba nhóm nghiên cứu. Vì vậy, các nhà nghiên cứu đã kết luận rằng không có lợi ích bổ sung nào trong việc sử dụng whey protein hoặc đồ uống vì mục đích phục hồi cơ bắp.

Trưởng nhóm nghiên cứu, Tiến sĩ Thomas Gee cho biết: "Mặc dù protein và carbohydrate rất cần thiết sau khi tập luyện nhưng nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng việc bổ sung protein ngay sau khi tập luyện không ảnh hưởng quá nhiều đến phản ứng phục hồi hoặc giảm đau cơ. Vì vậy, chúng tôi đặt ra giả thuyết về việc chính chế độ ăn uống hàng ngày sẽ ảnh hưởng tới việc phục hồi".

Những kết quả này có vẻ khác hoàn toàn so với các nghiên cứu và các kiến thức về whey protein trước đây. Nghiên cứu trước đây của Trung tâm Thông tin Công nghệ sinh học Quốc gia Mỹ cho thấy protein có thể làm giảm đau nhức, tăng tốc độ phục hồi và giúp làm lành các cơ bị rách trong quá trình tập tạ. Thêm vào đó, có nhiều nghiên cứu đều chỉ ra rằng việc bổ sung protein sẽ giúp tăng cường đáng kể sức mạnh và kích thước cơ bắp trong quá trình luyện tập.

Whey protein không thực sự giúp phục hồi cơ bắp? - Ảnh 3.
Giáo sư Melissa Morris của trường đại học Tampa (Florida, Mỹ) nhận định: "Việc phục hồi cơ bắp không chỉ bằng bổ sung protein mà còn phải xem xét nhiều yếu tố khác như chế độ luyện tập, nghỉ ngơi, dinh dưỡng tổng thể... Trên hết, nó sẽ phụ thuộc vào tổng số lượng và chất lượng protein bạn ăn trong ngày, thay vì lượng protein bạn nạp vào trong một mốc thời gian cụ thể".

(Theo Healthline)

Minh Nguyệt

Theo thống kê, mỗi năm ở Việt Nam có khoảng 200.000 người đột quỵ, trong đó có khoảng 83.000 bệnh nhân dưới 45 tuổi, chiếm khoảng 41%. Nguyên nhân đột quỵ ở người trẻ ít ai ngờ tới

Theo thống kê, mỗi năm ở Việt Nam có khoảng 200.000 người đột quỵ, trong đó có khoảng 83.000 bệnh nhân dưới 45 tuổi, chiếm khoảng 41%. Nguyên nhân đột quỵ ở người trẻ ít ai ngờ tới.

Tại Việt Nam, mỗi năm có khoảng 200.000 người mắc mới đột quỵ, khoảng 50% trong số đó tử vong và để lại các di chứng sau cơn đột quỵ nặng nề như liệt nửa người, liệt toàn thân, bại não, biến chứng tâm lý, tâm thần... Thậm chí những người ở độ tuổi 20 hoặc trẻ hơn cũng đang có nguy cơ bị đột quỵ. (Theo thống kê từ Hội nghị khoa học Đột quỵ và Thần kinh toàn quốc lần thứ 7).

Nghiên cứu của hội Tim mạch Mỹ cho thấy, nhóm người mất ngủ từ 18 - 34 tuổi có nguy cơ đột quỵ cao gấp 8 lần so với người bình thường. Tạp chí Stroke của hội Tim mạch Mỹ gần đây cũng vừa đăng cảnh báo: nguy cơ đột quỵ do mất ngủ tăng cao lên đến 54%, đặc biệt ở những người trẻ tuổi.

Theo PGS. TS Vũ Anh Nhị, Chủ tịch Hội Thần kinh học TP.HCM, phần lớn mọi người thường bỏ qua giai đoạn sớm của bệnh mất ngủ vì chưa biết đến những hậu quả nguy hiểm của tình trạng này, đặc biệt là mối quan hệ mật thiết với đột quỵ (tai biến mạch máu não).

Điều gì làm nên nguy cơ đột quỵ ở người trẻ? - Ảnh 1.
Dưới góc độ sinh học, các nhà khoa học đã tìm ra nguyên nhân sâu xa của nhiều bệnh lý thần kinh và mạch máu não như đột quỵ, mất ngủ, đau nửa đầu... đó chính là do sự tấn công của gốc tự do. Chúng được ví như những "chất độc" có khả năng "tàn phá" não bộ, được sinh ra tất yếu trong quá trình chuyển hóa và tăng sinh mạnh mẽ khi cơ thể gặp nhiều stress, áp lực, chế độ ăn uống thiếu khoa học, sử dụng nhiều chất kích thích như bia rượu cà phê, trà, thuốc lá…

Khi gốc tự do tăng lên, chúng sẽ tấn công vào thành mạch máu, khiến thành mạch tổn thương, thúc đẩy sự hình thành các mảng xơ vữa và cục huyết khối, dẫn đến hẹp lòng động mạch gây thiếu máu não. Tình trạng này khiến tế bào thần kinh không được cung cấp đủ oxy và dưỡng chất, làm các dẫn truyền thần kinh bị rối loạn, dẫn đến các cơn đau nửa đầu và rối loạn giấc ngủ (mất ngủ, khó ngủ, ngủ không sâu giấc).

Đặc biệt, khi mảng xơ vữa tích tụ ngày càng nhiều cùng với các cục huyết khối sẽ gây tắc nghẽn dòng máu, khiến máu không lưu thông lên được não làm chết mô não, hoặc có thể làm vỡ mạch máu não gây ra xuất huyết dẫn đến đột quỵ.

Ngoài ra, trong môi trường sống hiện đại, giới trẻ có xu hướng theo đuổi công việc cộng với những áp lực, căng thẳng khiến cho huyết áp tăng cao, cơ tim co bóp mạnh. Khi dòng máu chảy về não tăng đột ngột gây nguy cơ hình thành cục máu đông làm tắc nghẽn mạch máu não hoặc xuất huyết não.

Điều gì làm nên nguy cơ đột quỵ ở người trẻ? - Ảnh 2.
Các dấu hiệu đột quỵ có thể xuất hiện và biến mất rất nhanh, lặp đi lặp lại nhiều lần, bao gồm: Cơ thể mệt mỏi, đột nhiên cảm thấy không còn sức lực, tê cứng mặt hoặc một nửa mặt, nụ cười bị méo mó; Cử động khó hoặc không thể cử động chân tay, tê liệt một bên cơ thể (ví dụ không thể nâng hai cánh tay qua đầu cùng một lúc); Khó phát âm, nói không rõ chữ, bị dính chữ, nói ngọng bất thường; Hoa mắt, chóng mặt, người mất thăng bằng đột ngột; Thị lực giảm, mắt mờ, không nhìn rõ; Đau đầu dữ dội, cơn đau đầu đến rất nhanh, có thể gây buồn nôn hoặc nôn…

Trong khi đó, việc dùng thuốc ngủ và thuốc an thần chỉ là biện pháp tạm thời, vì lạm dụng sẽ làm phá vỡ chu trình ngủ - thức tự nhiên khiến mất ngủ càng thêm trầm trọng, ngoài ra còn nhiều tác dụng phụ nguy hiểm lên gan, thận... Vì thế, việc phòng tránh đột quỵ phần lớn dựa vào chế độ dinh dưỡng và lối sống của mỗi người.

5 thói quen phòng ngừa:

Một nghiên cứu được công bố trên chuyên san Circulation cho biết có 5 thói quen lành mạnh giúp giảm 80% nguy cơ bị đột quỵ. Đó là:

- Không hút thuốc lá.

- Giữ cân nặng ở mức hợp lý, tức có chỉ số khối cơ thể (BMI) dưới 25.

- Tập thể dục trong 30 phút trở lên mỗi ngày.

- Một chế độ ăn uống ít chất béo "xấu", ít thức ăn nhanh.

- Ngủ đủ 7 – 8 tiếng mỗi ngày. Không nên thức khuya thường xuyên sau 11h đêm.

Hoài Phương

Gõ từ khóa và nhấn Enter