
Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Doãn Mậu Diệp khẳng định như vậy tại buổi công bố Bản tin cập nhật thị trường lao động Việt Nam quý 1/2019, ngày 10/7.
Theo bản tin, trong quý 1/2019, số người có việc làm là 54,32 triệu người, giảm 207,71 nghìn người (0,38%) so với quý 4/2018, nhưng vẫn tăng 329,75 nghìn người (0,61%) so với cùng kỳ năm ngoái. Cả nước có 25,16 triệu người làm công hưởng lương, chiếm 46,31% tổng số lao động có việc làm, tăng 545,38 nghìn người (2,2%) so với quý 4/2018.
Các lao động làm công hưởng lương có tổng thu nhập bình quân tháng đạt 6,94 triệu đồng. Trong đó, thu nhập của nhóm có trình độ đại học trở lên cao nhất, cao hơn nhóm không có bằng cấp chứng chỉ là 4,65 triệu đồng. Còn thu nhập của lao động làm công hưởng lương từ công việc chính đạt bình quân 6,82 triệu đồng/tháng, tăng 944.000 đồng.
Xét theo ngành nghề, thu nhập bình quân tháng từ công việc chính cao nhất là ngành dịch vụ với 7,11 triệu đồng. Còn xét theo nghề, thu nhập bình quân tháng từ công việc chính cao nhất là quản lý (10,2 triệu đồng).
Quý này cũng ghi nhận số lượng và tỷ lệ lao động làm việc trong khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục giảm. Trong khi đó, hai ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và vận tải, kho bãi lại có số lao động tăng nhiều nhất so với quý 4/2018.
Cũng trong quý 1/2019, số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 1,05 triệu người, chiếm 2,17%. Đáng chú ý, tỷ lệ thất nghiệp giảm mạnh nhất ở nhóm có trình độ cao đẳng, giảm 0,82 điểm phần trăm so với qúy 4/2018. Còn lại các nhóm khác có mức độ giảm không nhiều, nhóm trình độ đại học trở lên, trung cấp và sơ cấp tương ứng là 2,16%, 2,26% và 1,04%.
Theo ông Đào Quang Vinh, Viện trưởng Viện Khoa học lao động và Xã hội, Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội, nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất nghiệp là do 36,4% hết hạn hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc; 18,7% do chấm dứt các hợp đồng này trước thời hạn; 12,8% do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động; 6,4% do doanh nghiệp, tổ chức giải thể, phá sản, thay đổi cơ cấu; 2,1% do bị xử lý kỷ luật, bị sa thải và một số nguyên nhân khác.




Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái cấu trúc, Việt Nam đứng trước cơ hội mới để chuyển từ một cứ điểm sản xuất có lợi thế về chi phí, trở thành mắt xích có giá trị cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu. Đây cũng là vấn đề trọng tâm được đặt ra tại Hội nghị Công nghiệp Sản xuất Quốc tế 2026, diễn ra từ ngày 9 đến 11/9 tại Hà Nội.
Hiệp hội Doanh nghiệp TP. Hồ Chí Minh thống nhất đổi tên thành Liên đoàn Doanh nghiệp TP. Hồ Chí Minh. Ông Mai Hữu Tín được bầu giữ chức Chủ tịch nhiệm kỳ 2026 - 2031…
Danh hiệu “Doanh nghiệp TP.Hồ Chí Minh tiêu biểu” và “Doanh nhân TP.Hồ Chí Minh tiêu biểu” sẽ được xét chọn định kỳ 2 năm một lần nhằm tôn vinh các doanh nghiệp, doanh nhân có thành tích xuất sắc trong sản xuất, kinh doanh, đổi mới sáng tạo, phát triển bền vững và đóng góp cho sự phát triển của Thành phố.
Giữa tâm điểm của làn sóng dữ liệu và sự bùng nổ AI, giá trị của sự xác thực và tư duy phản biện từ truyền thông chính thống lại càng trở nên vô giá. Khẳng định tầm vóc của Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy sau hành trình 35 năm phát triển, lãnh đạo các tập đoàn đa quốc gia và doanh nghiệp hàng đầu nhấn mạnh: cơ hội lớn nhất của báo chí kinh tế lúc này là làm chủ công nghệ và chuyển dịch mạnh mẽ từ “đưa tin” sang “kiến tạo tri thức”. Đây chính là bệ phóng vững chắc giúp cộng đồng doanh nghiệp tăng tốc chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, tăng trưởng bền vững; đồng thời tiếp sức cho các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam tự tin vươn tầm khu vực và thế giới.
Kinh tế ngày nay không còn là một lĩnh vực tách biệt, mà được định hình mạnh mẽ bởi địa chính trị, công nghệ và tính bền vững. Giữa dòng chảy thông tin dồi dào, điều độc giả cần nhất ở báo chí chính thống là bối cảnh, góc nhìn chuyên sâu và sự tin cậy. Trong giai đoạn tới, sứ mệnh lớn nhất của báo chí kinh tế không phải là trở thành người đưa tin nhanh nhất, mà là trở thành nền tảng tinh thần của nền kinh tế.
Sau hơn 20 năm, ngành gỗ và nội thất Việt Nam đã vươn lên và nằm trong nhóm những trung tâm sản xuất lớn của thế giới. Tuy nhiên, phần lớn doanh nghiệp vẫn tập trung ở khâu sản xuất, trong khi năng lực thiết kế, xây dựng thương hiệu và phát triển thị trường còn hạn chế. Để nâng cao giá trị gia tăng, ngành cần chuyển từ thích ứng sang chủ động kiến tạo và làm chủ chuỗi giá trị toàn cầu.
Sau hơn một thập kỷ không phát hành trái phiếu Chính phủ trên thị trường vốn quốc tế, khả năng Việt Nam trở lại với trái phiếu Chính phủ bằng USD đang thu hút sự quan tâm của giới đầu tư.