Ba trụ cột chiến lược để Việt Nam phát triển ngành công nghiệp bán dẫn
Bảo Bình
24/03/2026
Theo chuyên gia, nguồn vốn đầu tư cho công nghệ cao cần được sử dụng theo cách gắn chặt với chuyển giao tri thức và đào tạo nhân lực…
Trong bối cảnh Việt Nam đang định hướng phát triển mạnh các lĩnh vực công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn và các công nghệ lõi, Giáo sư Augustine Hà Tôn Vinh, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Tổ hợp Giáo dục, Đào tạo và Tư vấn quản lý Stellar Management, Chủ nhiệm Chương trình Giáo dục và Đào tạo doanh nghiệp cao cấp của Đại học Tổng hợp California Miramar University (CMU) tại Việt Nam, cho rằng để rút ngắn khoảng cách với thế giới, Việt Nam cần xây dựng nền tảng vững chắc dựa trên ba trụ cột: công nghệ, nguồn lực tài chính và nguồn nhân lực chất lượng cao.
CHÍNH PHỦ PHẢI LÀ NHÀ ĐẦU TƯ TIÊN PHONG CHO CÔNG NGHỆ LÕI
Theo Giáo sư Augustine Hà Tôn Vinh, những lĩnh vực như bán dẫn hay công nghệ lõi đòi hỏi nguồn vốn đầu tư rất lớn, kéo dài nhiều năm và vượt quá khả năng của khu vực tư nhân nếu không có sự dẫn dắt mạnh mẽ từ Nhà nước.
“Kinh nghiệm quốc tế cho thấy các quốc gia đi trước đã đầu tư hàng trăm tỷ USD cho các ngành công nghệ chiến lược. Riêng chi phí dành cho nghiên cứu và phát triển (R&D) đã lên tới hàng chục tỷ USD, và phải mất nhiều năm mới có thể tạo ra những kết quả đáng kể”, Giáo sư Augustine Hà Tôn Vinh cho biết trong cuộc trao đổi với phóng viên Tạp chí Kinh tế Việt Nam / VnEconomy.
“Đất nước mình còn nhiều khó khăn, nhưng nếu đã xác định theo đuổi công nghệ lõi, công nghệ chiến lược thì sẽ phải đầu tư”, ông nhấn mạnh.
Những lĩnh vực như bán dẫn hay công nghệ lõi đòi hỏi nguồn vốn đầu tư rất lớn, kéo dài nhiều năm và vượt quá khả năng của khu vực tư nhân nếu không có sự dẫn dắt mạnh mẽ từ Nhà nước.
Theo GS Hà Tôn Vinh, nếu chỉ kêu gọi hoặc trông chờ vào nguồn vốn từ bên ngoài sẽ không thực tế, bởi vì theo tư duy kinh doanh, các doanh nghiệp đầu tư luôn vì lợi ích kinh tế của chính họ. Chính phủ cần đóng vai trò là nhà đầu tư tiên phong để tạo niềm tin và động lực cho các nguồn lực khác cùng tham gia.
Bàn về nguồn lực tài chính cho các ngành công nghệ chiến lược, ông cho rằng Việt Nam có thể xem xét cách phân bổ nguồn lực trong dài hạn, cân nhắc mức độ ưu tiên của các dự án và dành thêm nguồn lực cho đầu tư công nghệ và đào tạo con người. “Tầm nhìn cho công nghệ, cho bán dẫn và cho đào tạo con người nên được ưu tiên ở mức tương xứng”, ông nói.
Ngoài ra, theo Giáo sư Augustine Hà Tôn Vinh, nguồn vốn đầu tư cho công nghệ cao cần được sử dụng theo cách gắn chặt với chuyển giao tri thức và đào tạo nhân lực. Khi đầu tư vào các thiết bị công nghệ tiên tiến, Việt Nam hoàn toàn có thể ký kết các hợp đồng mua sắm máy móc kèm theo điều kiện bắt buộc về chuyển giao công nghệ và đào tạo vận hành.
Ông cho rằng trong các hợp đồng này cần quy định rõ việc thuê chuyên gia nước ngoài sang làm việc và đào tạo nhân lực trong nước trong một khoảng thời gian nhất định, chẳng hạn khoảng ba năm, để bảo đảm đội ngũ kỹ sư Việt Nam có thể nắm vững công nghệ.
“Tuyệt đối không nên chỉ mua máy móc đơn thuần rồi để đắp chiếu,” ông nhấn mạnh.
Theo GS Hà Tôn Vinh, đầu tư công nghệ cần được nhìn nhận tương tự như việc mua một chiếc máy bay hiện đại. Không thể chỉ mua thiết bị mà phải đi kèm với dịch vụ tư vấn, bảo hành và đào tạo vận hành từ các chuyên gia có kinh nghiệm. Chỉ khi kết hợp đồng bộ giữa thiết bị, công nghệ và con người, khoản đầu tư mới thực sự phát huy hiệu quả.
VIỆT NAM ĐANG THIẾU CẢ THẦY LẪN TRÒ TRONG NGÀNH CÔNG NGHỆ CAO
Để xây dựng được các ngành công nghệ chiến lược như AI hay bán dẫn, Việt Nam cần một chiến lược đào tạo nhân lực bài bản và dài hạn. “Thực tế khó khăn nhất của Việt Nam là chúng ta đang thiếu hụt nguồn nhân lực ở nhiều cấp độ, thiếu cả thầy lẫn trò”, ông nói.
Ông cho rằng cần nhìn nhận rõ sự khác biệt giữa các lĩnh vực công nghệ. Nếu trí tuệ nhân tạo có thể thiên về phần mềm, thì ngành bán dẫn lại là một ngành công nghiệp chế tạo máy móc vật lý với mức độ phức tạp rất cao. Vì vậy, việc phát triển ngành này không thể “đốt cháy giai đoạn”, mà phải bắt đầu bằng việc đưa nhân lực ra nước ngoài học tập trực tiếp trên thiết bị và dây chuyền công nghệ.
“Hiện nay chúng ta đặt mục tiêu đào tạo hàng chục nghìn, thậm chí hàng trăm nghìn kỹ sư bán dẫn. Tuy nhiên, lĩnh vực này không thể đào tạo chỉ bằng sách vở. Kỹ sư bán dẫn cần được làm việc trực tiếp với máy móc, thiết bị và dây chuyền công nghệ”, ông nói. Chính phủ và doanh nghiệp cần phối hợp để gửi các kỹ sư ra nước ngoài đào tạo thực hành trên máy móc, từ đó từng bước hình thành đội ngũ chuyên gia trong nước.
"Với ngành bán dẫn nói riêng và nhiều lĩnh vực công nghệ cao nói chung, yếu tố thực hành là điều kiện bắt buộc, không thể chỉ dựa vào đào tạo lý thuyết và Nhà nước phải đóng vai trò nhà đầu tư tiên phong, không chỉ ở khía cạnh đầu tư tài chính mà còn trong việc xây dựng hệ sinh thái đào tạo nhân lực".
“Theo tôi, một hướng đi thực tế là Chính phủ nên tạo điều kiện để các doanh nghiệp nước ngoài tiếp nhận kỹ sư Việt Nam vào làm việc và học hỏi trong môi trường thực tế. Mỗi công ty có thể tiếp nhận vài chục kỹ sư, qua đó giúp họ tích lũy kinh nghiệm và kỹ năng. Với ngành bán dẫn nói riêng và nhiều lĩnh vực công nghệ cao nói chung, yếu tố thực hành là điều kiện bắt buộc, không thể chỉ dựa vào đào tạo lý thuyết và Nhà nước bắt buộc phải đóng vai trò nhà đầu tư tiên phong, không chỉ trong việc rót vốn mà còn trong việc xây dựng hệ sinh thái đào tạo nhân lực”.
Sau khi được đào tạo, các giảng viên cũng cần tham gia trực tiếp vào môi trường sản xuất, các nhà máy hoặc xưởng thực hành để tích lũy kinh nghiệm thực tiễn. Chỉ khi có sự kết hợp giữa lý thuyết và trải nghiệm thực tế, họ mới có thể quay lại trường và đào tạo thế hệ kỹ sư, kỹ thuật viên đáp ứng nhu cầu của ngành công nghiệp công nghệ cao trong tương lai.
Trong bối cảnh đội ngũ giảng viên trong nước còn thiếu kinh nghiệm thực tiễn và sinh viên chủ yếu tiếp cận lý thuyết, GS Hà Tôn Vinh cho rằng giải pháp cấp bách là mời các chuyên gia nước ngoài và lực lượng kỹ sư Việt kiều tham gia giảng dạy. Theo ông, cộng đồng kỹ sư người Việt ở nước ngoài là nguồn lực rất lớn, nhiều người trong số họ có kinh nghiệm làm việc tại các tập đoàn công nghệ hàng đầu. Nhiều chuyên gia cũng rất mong muốn được đóng góp cho quê hương.
“Chỉ cần một buổi giao lưu, nói chuyện của một chuyên gia hàng đầu từ nước ngoài trở về cũng có thể thu hút hàng trăm sinh viên tham dự và tạo ra động lực rất lớn”, ông chia sẻ.
Một hướng đào tạo thiết thực nữa để phát triển nguồn nhân lực công nghệ cao là tổ chức các chương trình ngắn hạn theo hướng “truyền nghề”. Các khóa học này có thể kéo dài từ một đến vài tuần, do các chuyên gia trong và ngoài nước trực tiếp giảng dạy, tập trung vào kinh nghiệm thực tế thay vì lý thuyết thuần túy.
“Tư duy đào tạo phải là tư duy truyền nghề thực chiến thì mới có thể xây dựng được ngành công nghiệp này”, ông nhấn mạnh. “Nếu chỉ chờ các giảng viên trong nước hoàn thành các chương trình đào tạo tiến sĩ ở nước ngoài rồi quay về giảng dạy, thì khi đó công nghệ thế giới đã tiến xa thêm nhiều bước. Vì vậy, cần tận dụng ngay nguồn tri thức từ các chuyên gia đang sẵn sàng đóng góp để nâng cao năng lực cho đội ngũ giảng viên trong nước”.
Theo Giáo sư Augustine Hà Tôn Vinh, các chính sách và định hướng phát triển công nghệ cao của Chính phủ hiện nay nhìn chung đang đi đúng hướng. Tuy nhiên, để các chiến lược này thực sự phát huy hiệu quả, điều quan trọng là phải có sự phối hợp tổng thể và đồng bộ giữa Nhà nước, doanh nghiệp và hệ thống đào tạo.
Theo chuyên gia, nguồn vốn đầu tư cho công nghệ cao cần được sử dụng theo cách gắn chặt với chuyển giao tri thức và đào tạo nhân lực…
Hạn chế về chi phí và nguồn lực, không ít doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp khó trong việc bảo vệ dữ liệu. Họ cần một giải pháp đơn giản hóa triển khai, giảm yêu cầu về nhân lực chuyên sâu và tối ưu chi phí…
Theo các chuyên gia, thách thức lớn nhất hiện nay không nằm ở việc thiếu quy định pháp luật, mà ở khoảng cách giữa quy định và thực tiễn tuân thủ...
Quan sát trên mạng xã hội cho thấy OpenClaw đang rất thu hút cộng đồng mạng Việt Nam, thậm chí đã có nhiều nhóm, page về OpenClaw, chia sẻ cách cài đặt, sử dụng và bàn luận về OpenClaw...
Chuyển đổi số được xem không chỉ là câu chuyện công nghệ mà còn là quá trình tái cấu trúc quản trị, đòi hỏi cách tiếp cận toàn diện, dựa trên dữ liệu và hướng tới bao trùm xã hội...
Chất lượng hạ tầng viễn thông Việt Nam được đánh giá đạt mức cao, tạo ra rào cản đáng kể đối với các dịch vụ mới như Starlink...
Nhiều doanh nghiệp tại Việt Nam đang đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, đặc biệt là các nền tảng AI và điện toán đám mây, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và gia tăng doanh thu. Tuy nhiên, tốc độ thay đổi trong chiến lược an ninh mạng lại chậm hơn nhiều…
Trong bối cảnh các cuộc tấn công sử dụng AI có thể thay đổi nhanh chóng, việc phát hiện chậm vài giờ hoặc vài ngày có thể dẫn đến mất khả năng kiểm soát toàn bộ hệ thống…
Trước sự biến tướng tinh vi của các mạng lưới lừa đảo trực tuyến tại Đông Nam Á, giới chuyên gia an ninh mạng nhận định các đợt truy quét vật lý là chưa đủ…
Sự phát triển nhanh chóng của các thế hệ mạng di động, đặc biệt là 5G, đang mở ra khả năng kết nối tốc độ cao chưa từng có...