Chuyển đổi số mở đường bảo tồn văn hóa, tạo sinh kế cho các dân tộc thiểu số
Thanh Minh
20/01/2026
Chuyển đổi số không chỉ tạo ra không gian mới để bảo tồn và lan tỏa các giá trị văn hóa truyền thống, mà còn mở ra những cơ hội sinh kế và phát triển kinh tế chưa từng có cho các cộng đồng vốn chịu nhiều thiệt thòi...
Tuy nhiên, song hành với cơ hội là những thách thức ngày càng rõ nét, đòi hỏi cách tiếp cận toàn diện, lấy người dân tộc thiểu số làm chủ thể trung tâm của quá trình chuyển đổi số.
KHÔNG GIAN SỐ: CÁNH CỬA MỚI CHO BẢO TỒN VÀ LAN TỎA DI SẢN VĂN HÓA
Đặt trong bối cảnh Việt Nam, 54 dân tộc anh em cùng sinh sống đã tạo nên bức tranh đa dạng và phong phú về văn hóa. Quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước, được thể hiện xuyên suốt trong Hiến pháp và hệ thống pháp luật, là bảo đảm sự bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc, đồng thời hỗ trợ nhau cùng phát triển. Trong tiến trình đó, chuyển đổi số đang trở thành một động lực quan trọng lan tỏa văn hóa cũng như tạo sinh kế cho người dân tộc thiểu số trong bối cảnh mới.
Môi trường số mang lại là khả năng bảo tồn và lan tỏa di sản văn hóa thông qua số hóa.
Các giá trị văn hóa vốn gắn với không gian bản làng, lễ hội, ngôn ngữ và tri thức bản địa nay có thể được lưu giữ, kết nối và quảng bá rộng rãi thông qua bảo tàng số, thư viện số và các nền tảng trực tuyến.
Theo TS. Trần Thị Hồng Hạnh, giảng viên chính Viện Quyền con người, một trong những cơ hội rõ nét nhất mà môi trường số mang lại là khả năng bảo tồn và lan tỏa di sản văn hóa thông qua số hóa. Các giá trị văn hóa vốn gắn với không gian bản làng, lễ hội, ngôn ngữ và tri thức bản địa nay có thể được lưu giữ, kết nối và quảng bá rộng rãi thông qua bảo tàng số, thư viện số và các nền tảng trực tuyến. Ở Việt Nam, nhiều sáng kiến đã được triển khai, từ các không gian di sản số đến các dự án hợp tác với những nền tảng công nghệ lớn như Google, nhằm giới thiệu văn hóa của 54 dân tộc anh em tới công chúng trong và ngoài nước.
“Môi trường số không chỉ giúp “lưu trữ” văn hóa, mà còn tạo điều kiện để văn hóa tiếp tục được “sống”, được tái hiện và lan tỏa”, TS. Trần Thị Hồng Hạnh nói. Những điệu múa, làn điệu dân ca, hoa văn trang phục, lễ hội truyền thống hay tri thức bản địa về canh tác, ẩm thực, y học dân gian có thể được tiếp cận bởi hàng triệu người chỉ qua một cú nhấp chuột. “Trong bối cảnh toàn cầu hóa, điều này góp phần quan trọng vào việc khẳng định bản sắc, nâng cao vị thế văn hóa của các cộng đồng dân tộc thiểu số”.
Bên cạnh đó, chuyển đổi số còn giúp người dân tộc thiểu số tăng cường tiếng nói và khả năng tự đại diện. Thay vì để người khác kể câu chuyện của mình, họ có thể trực tiếp trở thành các nhà sáng tạo nội dung trên các nền tảng như TikTok, YouTube, Facebook. Thông qua những video ngắn, những kênh cá nhân, họ quảng bá lễ hội, trang phục, phong tục, tri thức bản địa và đời sống thường nhật của cộng đồng mình.
“Đây không chỉ là sự thay đổi về hình thức truyền thông, mà còn là sự chuyển dịch về quyền lực biểu đạt, khi người dân tộc thiểu số trở thành chủ thể kể chuyện, chủ động tham gia vào không gian văn hóa số”, TS. Trần Thị Hồng Hạnh nhấn mạnh.
CÔNG NGHỆ SỐ VÀ SINH KẾ BỀN VỮNG: CƠ HỘI ĐI KÈM THÁCH THỨC
Không chỉ dừng lại ở bảo tồn và lan tỏa văn hóa, chuyển đổi số còn mở ra những cơ hội thiết thực để tạo sinh kế và nâng cao thu nhập cho người dân tộc thiểu số. “Thông qua các nền tảng số, người dân có thể kinh doanh sản phẩm truyền thống như thổ cẩm, đồ thủ công mỹ nghệ, nông sản đặc trưng của địa phương, tiếp cận thị trường rộng lớn hơn mà trước đây khó có thể vươn tới”, TS. Trần Thị Hồng Hạnh nói.
“Bên cạnh đó, các sản phẩm văn hóa số như bài hát, video, nội dung sáng tạo bằng tiếng dân tộc, có phụ đề tiếng Việt, cũng trở thành một nguồn thu nhập mới, vừa góp phần bảo tồn văn hóa, vừa gắn với phát triển kinh tế”.
Đặc biệt, môi trường số còn mở ra cơ hội cho các nhóm dễ bị tổn thương kép trong cộng đồng dân tộc thiểu số, như phụ nữ, thanh niên, trẻ em và người khuyết tật. Công nghệ số cho phép họ tham gia, thể hiện và khẳng định mình theo những cách linh hoạt hơn, vượt qua các rào cản về địa lý và điều kiện kinh tế. Với nhiều người, không gian số trở thành cánh cửa đầu tiên để tiếp cận tri thức, việc làm và các mối quan hệ xã hội rộng lớn hơn.
Tuy nhiên, chuyên gia nhấn mạnh song hành với cơ hội là những thách thức không nhỏ. Trước hết là nguy cơ loại trừ ngôn ngữ số. Nếu các nền tảng công nghệ, dịch vụ công trực tuyến hay y tế từ xa không hỗ trợ ngôn ngữ dân tộc thiểu số, thì khả năng tiếp cận các quyền con người khác của họ cũng bị hạn chế nghiêm trọng. Trong nhiều trường hợp, rào cản ngôn ngữ khiến người dân khó tiếp cận thông tin, dịch vụ thiết yếu và cơ hội việc làm trong môi trường số.
Trên phạm vi toàn cầu, trong khoảng 6.700 ngôn ngữ đang được sử dụng hiện nay, và có tới 40% đứng trước nguy cơ biến mất. Có hơn 4.000 ngôn ngữ của các cộng đồng thiểu số, nhưng trên Internet, chỉ một số rất ít ngôn ngữ được đại diện. Khoảng 80–90% nội dung số hiện nay chỉ tập trung vào 10 ngôn ngữ. Những con số này cho thấy nguy cơ loại trừ ngôn ngữ và văn hóa trong môi trường số là rất rõ ràng, nếu không có chính sách và giải pháp phù hợp.
Trong lĩnh vực văn hóa, việc thiếu kiến thức và kỹ năng cũng có thể dẫn tới việc truyền tải thông tin không chính xác, làm sai lệch hoặc đơn giản hóa các giá trị văn hóa truyền thống. Chính vì thế, công nghệ số cần góp phần giảm nghèo thông tin cho các nhóm dân tộc thiểu số.
Bên cạnh đó là tính dễ bị tổn thương kép của các nhóm dân tộc thiểu số, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em. Việc thiếu kỹ năng số không chỉ làm giảm hiệu quả tham gia vào không gian mạng, mà còn khiến họ đối mặt với nhiều rủi ro như bạo lực trên không gian số, lừa đảo, xâm hại, thậm chí là bắt cóc trực tuyến. Trong lĩnh vực văn hóa, việc thiếu kiến thức và kỹ năng cũng có thể dẫn tới việc truyền tải thông tin không chính xác, làm sai lệch hoặc đơn giản hóa các giá trị văn hóa truyền thống. Chính vì thế, công nghệ số cần góp phần giảm nghèo thông tin cho các nhóm dân tộc thiểu số.
Một thách thức khác ngày càng được nhắc đến nhiều hơn là nguy cơ chiếm đoạt tri thức và dữ liệu văn hóa. Khi dữ liệu trở thành nguồn tài nguyên quan trọng, khái niệm “thực dân dữ liệu” đã xuất hiện để phản ánh việc thu thập, khai thác và sử dụng dữ liệu văn hóa của các cộng đồng thiểu số mà không có sự đồng thuận hoặc lợi ích tương xứng cho chính cộng đồng đó. Trong môi trường số, nếu không có cơ chế bảo vệ phù hợp, các giá trị văn hóa có thể dễ dàng bị thương mại hóa, chiếm dụng và tước khỏi quyền làm chủ của cộng đồng.
Chuyên gia cho rằng không chỉ dừng lại ở bảo tồn và phát huy, cần coi các dân tộc thiểu số là chủ thể có quyền quyết định đối với việc tham gia, quản trị và kiểm soát dữ liệu văn hóa của chính mình trong môi trường số.
“Cần bảo đảm sự tiếp cận và tham gia bình đẳng thông qua việc nâng cao năng lực số cho cộng đồng dân tộc thiểu số. Đồng thời, xây dựng cơ chế bảo vệ quyền làm chủ dữ liệu văn hóa, quy định rõ ai được thu thập, ai được sử dụng, sử dụng vào mục đích gì, và bảo đảm quyền văn hóa luôn gắn với quyền riêng tư, nhân phẩm và các quyền con người khác”, TS. Trần Thị Hồng Hạnh nói.
Công ty Rạng Đông được TÜV SÜD cấp chứng nhận quốc tế, khẳng định năng lực công nghệ và khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Chuyển đổi số cần đảm bảo quyền lợi cho người nghèo và nhóm yếu thế, theo GS.TS Vũ Công Giao. Công nghệ phải phục vụ con người, không tạo ra tổn hại mới.
Việt Nam cần lấp đầy khoảng trống thực thi chuyển đổi số để giảm nghèo bền vững, đặc biệt cho người khuyết tật và nhóm yếu thế.
Nỗi sợ bị lừa khi tiếp cận công nghệ số cản trở người dân, đặc biệt là nhóm yếu thế. Chỉ khi được trang bị kiến thức, chuyển đổi số mới thực sự hiệu quả.
Hội thảo tại Đại học Bách khoa Hà Nội nhấn mạnh vai trò của dữ liệu và tài chính số trong phát triển kinh tế số Việt Nam, với mục tiêu đóng góp 30% GDP vào năm 2030.
FPT Digital công bố bổ nhiệm ông Trần Huy Bảo Giang làm Chủ tịch và ông Lê Hùng Cường làm Tổng Giám đốc, nhằm nâng cao hiệu quả chuyển đổi số và AI.
Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân có hiệu lực từ 1/1/2026 đặt ra yêu cầu mới cho ngân hàng trong ứng dụng AI, tạo nền tảng quản trị dữ liệu bền vững.
Chuyên gia UNICEF nhấn mạnh tầm quan trọng của cách tiếp cận toàn xã hội trong bảo đảm quyền trẻ em và nhóm yếu thế trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ.