Muốn có nhiều kỳ lân, đại học Việt Nam phải có quỹ đầu tư, có doanh nghiệp đầu tư công nghệ
Bảo Bình
22/05/2026
Trường đại học sẽ không chỉ có khoa, viện, trường, lớp nữa, mà phải có Giám đốc chuyển giao công nghệ, phải có quỹ, có vườn ươm, công ty holding để đầu tư vào những giai đoạn mà thị trường chưa sẵn sàng đầu tư...
Trong làn sóng thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển công nghệ hiện nay, các trường đại học Việt Nam đang đứng trước một vai trò hoàn toàn mới: không chỉ đào tạo nhân lực hay nghiên cứu khoa học, mà còn phải trở thành nơi sản sinh startup công nghệ, thúc đẩy thương mại hóa và kết nối vốn đầu tư.
Theo ông Phạm Tuấn Hiệp, Giám đốc đầu tư BK Holdings, Đại học Bách Khoa Hà Nội, để hình thành những doanh nghiệp công nghệ có khả năng vươn lên quy mô lớn, thậm chí trở thành “kỳ lân” trong tương lai, trường đại học sẽ không thể vận hành theo mô hình truyền thống. Thay vào đó, các trường buộc phải xây dựng cả một hệ sinh thái khởi nghiệp bên trong, bao gồm vườn ươm, quỹ thử nghiệm sản phẩm, văn phòng chuyển giao công nghệ, thậm chí cả công ty holding đầu tư cho startup.
TỪ “PHONG TRÀO KHỞI NGHIỆP” ĐẾN BÀI TOÁN THƯƠNG MẠI HÓA CÔNG NGHỆ
Những năm gần đây, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đã trở thành một trong những chủ đề được thúc đẩy mạnh trong hệ thống giáo dục đại học. Tuy nhiên, theo ông Phạm Tuấn Hiệp, giai đoạn sắp tới sẽ khác rất nhiều so với thời kỳ trước.
Ông cho biết, trong giai đoạn đầu triển khai Đề án hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp theo Quyết định 1665/QĐ-TTg, mục tiêu lớn nhất là lan tỏa tinh thần khởi nghiệp trong trường học. Điều quan trọng khi đó là tạo cảm hứng cho sinh viên, giúp họ tiếp cận tư duy đổi mới sáng tạo và tinh thần dám khởi nghiệp. Quyết định 1665/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp đến năm 2025”. Nội dung đề án tập trung thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp, trang bị kiến thức và kỹ năng khởi nghiệp cho học sinh, sinh viên, đồng thời tạo môi trường thuận lợi để hiện thực hóa ý tưởng và dự án khởi nghiệp.
Tuy nhiên, theo ông Phạm Tuấn Hiệp, từ năm 2025 trở đi, đặc biệt dưới tác động của Nghị quyết số 57-NQ/TW, trọng tâm đang dịch chuyển mạnh sang hiệu quả thực tế và khả năng hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong trường đại học.
“Giai đoạn trước có điểm nhấn là lan tỏa nhanh, lan tỏa rộng tinh thần khởi nghiệp cho thầy và trò. Nhưng đến giai đoạn hai thì sẽ không chỉ dừng ở tinh thần khởi nghiệp nữa. Các trường đại học phải định hình hệ sinh thái khởi nghiệp, phải kết nối với nhà đầu tư, với doanh nghiệp, phải có kết quả bán hàng và gọi vốn”, ông Hiệp nói.
Theo ông, đây là sự thay đổi mang tính bản chất. Nếu trước đây nhiều hoạt động khởi nghiệp trong trường đại học chủ yếu dừng ở các cuộc thi ý tưởng hay dự án mô phỏng, thì nay yêu cầu đã chuyển sang việc tạo ra startup thực sự, có khả năng thương mại hóa sản phẩm và tham gia thị trường.
Công nghệ phát triển nhanh, đặc biệt là AI, bán dẫn hay deeptech, nên vai trò của đại học càng trở nên quan trọng. Đây là nơi tập trung nguồn lực nghiên cứu, nhân lực chất lượng cao và các ý tưởng công nghệ mới. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất của các trường đại học chính là thiếu năng lực đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường.
Yêu cầu mới đang đặt ra cho đại học Việt Nam, phải chuyển từ mô hình đào tạo – nghiên cứu truyền thống sang mô hình “đại học đổi mới sáng tạo” và xa hơn là “đại học khởi nghiệp”.
Ông Hiệp cho rằng đây cũng là điểm yếu phổ biến của nhiều startup công nghệ Việt Nam hiện nay.
“Các doanh nghiệp công nghệ có điểm sở trường là đam mê sáng tạo về công nghệ. Nhưng chính sự đam mê đó nhiều khi lại trở thành rào cản, khiến họ tập trung quá nhiều vào công nghệ, quá nhiều vào sản phẩm”, ông nhận định.
Theo ông, nhiều nhà sáng lập giỏi kỹ thuật nhưng thiếu kỹ năng quản trị tài chính, thiếu hiểu biết về thị trường và năng lực gọi vốn. Trong khi đó, để startup phát triển thành doanh nghiệp lớn, công nghệ thôi là chưa đủ.
“Đam mê công nghệ là chưa đủ, còn cần phải thấu hiểu thị trường và thấu hiểu cả nhà đầu tư”, ông nhấn mạnh.
ĐẠI HỌC KHỞI NGHIỆP SẼ PHẢI CÓ TTO, POC FUND VÀ CẢ CÔNG TY HOLDING
Ông Phạm Tuấn Hiệp cho rằng yêu cầu mới đang đặt ra cho đại học Việt Nam, phải chuyển từ mô hình đào tạo – nghiên cứu truyền thống sang mô hình “đại học đổi mới sáng tạo” và xa hơn là “đại học khởi nghiệp”.
Tuy nhiên, đây là hành trình không hề dễ dàng.
“Đào tạo đã khó, nghiên cứu đã khó. Bây giờ lại phải đưa con người được đào tạo và kết quả nghiên cứu đó vào thương mại hóa, hình thành nên những nhà khởi nghiệp tương lai, thì đó luôn là yêu cầu khó”, ông nói.
Theo ông, ngay cả tại các nước phát triển, chỉ một tỷ lệ nhỏ trường đại học có thể trở thành đại học nghiên cứu mạnh, và còn ít hơn nữa có thể trở thành đại học khởi nghiệp thực thụ.
Với Việt Nam, thách thức càng lớn khi phần lớn trường đại học vẫn quen với mô hình vận hành truyền thống, thiếu nguồn lực và thiếu kinh nghiệm thương mại hóa công nghệ. Dù vậy, ông Hiệp cho rằng Việt Nam đã bắt đầu xuất hiện những mô hình thử nghiệm đầu tiên.
Để tạo ra hệ sinh thái khởi nghiệp thực sự trong trường đại học, theo ông, cần xuất hiện những cấu phần hoàn toàn mới mà trước đây gần như chưa tồn tại trong hệ thống giáo dục.
“Trong thời gian tới, trường đại học sẽ không chỉ có khoa, viện, trường, lớp nữa, mà phải có TTO, phải có POC Fund, phải có vườn ươm, phải có công ty holding để đầu tư vào những giai đoạn mà thị trường chưa sẵn sàng đầu tư”, ông Hiệp cho biết.
Trong đó, TTO (Technology Transfer Office) đóng vai trò chuyển giao công nghệ, kết nối nghiên cứu với doanh nghiệp. POC Fund là quỹ hỗ trợ thử nghiệm sản phẩm và mô hình kinh doanh, giúp startup vượt qua giai đoạn sơ khai trước khi có thể tiếp cận vốn thị trường.
Đặc biệt, mô hình công ty holding trong trường đại học được xem là bước đi rất mới tại Việt Nam. Theo cách tiếp cận này, trường đại học không chỉ đào tạo hay hỗ trợ kỹ thuật, mà còn có thể trực tiếp đầu tư vào startup công nghệ phát sinh từ hoạt động nghiên cứu của mình.
Điều này đặc biệt quan trọng với các startup deeptech – lĩnh vực thường cần vốn lớn, thời gian phát triển dài và mức độ rủi ro cao, khiến nhiều nhà đầu tư thị trường chưa sẵn sàng tham gia từ sớm.
Theo ông Hiệp, muốn xây dựng các doanh nghiệp công nghệ có khả năng cạnh tranh toàn cầu, Việt Nam bắt buộc phải phát triển đầy đủ hệ sinh thái hỗ trợ đổi mới sáng tạo ngay từ trong trường đại học.
“Đây là bài toán xây dựng hệ sinh thái, nên sẽ không có một công thức duy nhất hay một con đường duy nhất để giải”, ông nói.
Tuy nhiên, ông cũng cho rằng nếu không hình thành được những cấu trúc hỗ trợ như quỹ đầu tư, trung tâm chuyển giao công nghệ hay mô hình holding trong đại học, rất khó để Việt Nam tạo ra các startup công nghệ đủ sức tăng trưởng lớn trong tương lai.
Đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước áp lực phải tìm kiếm những giải pháp phát triển bền vững hơn...
Trường đại học sẽ không chỉ có khoa, viện, trường, lớp nữa, mà phải có Giám đốc chuyển giao công nghệ, phải có quỹ, có vườn ươm, công ty holding để đầu tư vào những giai đoạn mà thị trường chưa sẵn sàng đầu tư...
Điều cần làm là nâng cấp hạ tầng số, hoàn thiện các khung chính sách và cho thế giới thấy Việt Nam là một thị trường dịch vụ tài chính rất cạnh tranh. Nếu được như vậy, rất nhiều công ty từ Đông Nam Á, từ châu Á và châu Âu đổ vào đây…
Trong cuộc chiến bảo vệ an ninh mạng, kẻ tấn công chỉ cần thành công một lần, còn bên phòng thủ phải đúng gần như 100% thời gian…
Khoảng cách giữa các ngân hàng trong tương lai sẽ không được quyết định bởi công nghệ họ mua, mà bởi cách họ sử dụng dữ liệu để thay đổi vận hành, ra quyết định và tạo ra giá trị thực tế...
Sau hơn một thập kỷ dồn lực cho mobile banking và số hóa giao diện khách hàng, ngành ngân hàng Việt Nam đang bước vào một chu kỳ chuyển đổi mới: tái thiết hệ thống lõi…
Tình trạng công cụ bảo mật rời rạc và khối lượng cảnh báo quá lớn đang khiến hoạt động an ninh mạng của doanh nghiệp trở nên khó kiểm soát hơn bao giờ hết...
Quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa Việt Nam và Nhật Bản đang ngày càng đi vào thực chất, đổi mới sáng tạo mở đã trở thành cầu nối quan trọng giúp các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận nguồn lực công nghệ và tiêu chuẩn quốc tế…
Các Biên bản ghi nhớ (MoU) và hợp đồng giữa startup Việt Nam với các đối tác Nhật Bản đã được ký kết, thiết lập quan hệ hợp tác xuyên biên giới thực chất tại sự kiện Demo Day 2026…
Khảo sát sơ bộ cho thấy khoảng 9/10 thiếu niên đã được học hoặc tiếp cận nội dung về an toàn mạng, nhưng đồng thời cũng có tới 9/10 em phản ánh đã trực tiếp hoặc gián tiếp đối mặt với các rủi ro trên môi trường số…