Nông nghiệp công nghệ cao: “Bệ thử” cho startup và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo địa phương
Bảo Bình
15/12/2025
Các khu ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp đóng vai trò như những “hạt nhân” lan tỏa đổi mới sáng tạo, tạo cầu nối giữa doanh nghiệp, startup và nhà đầu tư...
Trong bối cảnh nông nghiệp Việt Nam chịu áp lực ngày càng lớn từ yêu cầu chuyển đổi xanh, truy xuất nguồn gốc và tuân thủ các tiêu chuẩn ESG, việc kết nối các khu nông nghiệp công nghệ cao với hệ sinh thái khởi nghiệp và tài chính xanh được xem là động lực then chốt để thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững ở địa phương.
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị đã xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá chiến lược hàng đầu, đặt mục tiêu kinh tế số chiếm tối thiểu 70% trong các ngành, đồng thời thúc đẩy sản xuất thông minh, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp.
PHÁT TRIỂN KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO CỦA ĐỊA PHƯƠNG, THÚC ĐẨY NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG
Phát biểu tại Hội thảo “Kết nối các khu ứng dụng công nghệ cao nông nghiệp để phát triển khởi nghiệp sáng tạo của địa phương thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững”, trong khuôn khổ TECHFEST Quốc gia 2025, bà Trần Vân Anh, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Phát triển Bền vững (MSD), nhấn mạnh vai trò then chốt của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong chiến lược phát triển mới của Việt Nam, đặc biệt đối với lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao và nông nghiệp thông minh.
Trong bối cảnh Việt Nam thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và thực hiện cam kết phát thải ròng bằng 0, bà Vân Anh khẳng định nông nghiệp công nghệ cao không chỉ là giải pháp mang tính kỹ thuật, mà còn là cấu phần quan trọng của mô hình tăng trưởng bền vững. Đồng thời, đây cũng là “bệ thử” để các startup và doanh nghiệp địa phương triển khai, hoàn thiện và mở rộng các giải pháp đổi mới sáng tạo.
Hội thảo được tổ chức nhằm mở ra không gian trao đổi chuyên sâu về vai trò của các khu ứng dụng công nghệ cao trong hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại địa phương; đồng thời thúc đẩy kết nối đa bên giữa doanh nghiệp nông nghiệp, startup, ngân hàng thương mại, quỹ đầu tư và các tổ chức hỗ trợ kỹ thuật.
Mục tiêu hướng tới là hình thành cơ chế liên kết hiệu quả, tạo nền tảng để đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được ứng dụng rộng rãi vào thực tiễn sản xuất – kinh doanh, góp phần phát triển nông nghiệp thông minh và bền vững.
Theo bà Nguyễn Thu Hương, Quản lý Chương trình cấp cao của Oxfam tại Việt Nam, các khu ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp đóng vai trò như những “hạt nhân” lan tỏa đổi mới sáng tạo, tạo cầu nối giữa doanh nghiệp, startup và nhà đầu tư, đồng thời thúc đẩy việc áp dụng các tiêu chuẩn ESG và phát triển tài chính xanh trong lĩnh vực nông nghiệp.
Ông Phạm Tuấn Hiệp, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chăn nuôi Bò sữa TH (Tập đoàn TH), khẳng định nông nghiệp công nghệ cao là động lực then chốt thúc đẩy chuyển đổi số và phát triển bền vững, tạo ra những tác động rõ nét về kinh tế, xã hội và môi trường.
CỐT LÕI KHÔNG NẰM Ở VIỆC CHẠY THEO CÔNG NGHỆ CAO BẰNG MỌI GIÁ, MÀ LÀ LỰA CHỌN “CÔNG NGHỆ PHÙ HỢP”
Ông Hiệp cho rằng để mô hình này phát triển hiệu quả, cần có khung chính sách dài hạn, ổn định, đặc biệt về đất đai nhằm hỗ trợ tích tụ ruộng đất, cùng các cơ chế ưu đãi đầu tư cho công nghệ IoT, AI, tự động hóa và hạ tầng dùng chung. Song song đó, cần thúc đẩy đổi mới sáng tạo thông qua các trung tâm R&D theo mô hình hợp tác Nhà nước – Doanh nghiệp – Viện, trường; triển khai cơ chế sandbox và tăng cường chia sẻ dữ liệu công.
Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chăn nuôi Bò sữa TH cũng cho rằng chính sách thị trường cần được hoàn thiện đồng bộ, từ truy xuất nguồn gốc số, mở rộng xuất khẩu đến phát triển nguồn nhân lực nông nghiệp 4.0, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành.
Đặc biệt, việc hình thành các trung tâm lan tỏa công nghệ tại địa phương sẽ giúp rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến thực tiễn sản xuất, tạo ra chuẩn mực mới cho nông nghiệp hiện đại: từ sản xuất nhỏ lẻ sang quy mô lớn, từ kinh nghiệm sang quản trị dựa trên dữ liệu, từ rủi ro cao sang tự động hóa và AI.
Không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế, ông Hiệp nhấn mạnh nông nghiệp công nghệ cao còn tạo ra giá trị xã hội và môi trường rõ rệt, góp phần thúc đẩy bình đẳng giới trong lao động nông thôn, hình thành văn hóa sản xuất minh bạch, chuyên nghiệp; đồng thời đẩy mạnh áp dụng kinh tế tuần hoàn, năng lượng tái tạo và các công nghệ xử lý chất thải hiện đại nhằm giảm phát thải và bảo vệ môi trường.
“Công nghệ chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi đi cùng quản trị hiện đại, dựa trên dữ liệu chuẩn, quy trình quản lý chặt chẽ và hạ tầng đồng bộ. Để nông nghiệp công nghệ cao phát triển bền vững, cần đầu tư đồng thời vào con người, chuỗi giá trị hoàn chỉnh và gắn kết chặt chẽ với phát triển địa phương, qua đó tạo nền tảng vững chắc để thu hút đầu tư, hội nhập quốc tế và nâng cao năng lực cạnh tranh của nông nghiệp Việt Nam trong dài hạn”, ông Phạm Tuấn Hiệp nói.
TS. Tạ Thế Hùng, Trưởng đại diện phía Bắc Công ty TNHH Rijk Zwaan Việt Nam, đã đưa ra nhiều kinh nghiệm thực tiễn từ Hà Lan và hoạt động của Rijk Zwaan tại Việt Nam trong thúc đẩy đổi mới sáng tạo nông nghiệp công nghệ cao. Theo ông, đây là xu hướng tất yếu nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu, sự thay đổi trong nhu cầu tiêu dùng và yêu cầu ngày càng cao về phát triển bền vững.
TS. Tạ Thế Hùng cho rằng nông nghiệp công nghệ cao giúp hình thành nền nông nghiệp chính xác, tối ưu hóa năng suất, tiết kiệm tài nguyên và gia tăng giá trị thông qua đa dạng hóa sản phẩm, xây dựng thương hiệu và tăng cường kết nối thị trường. Thực tiễn triển khai tại Việt Nam với các mô hình như rau thủy canh, canh tác trong nhà màng, luân canh dưa lưới – rau màu hay cà chua trái cây cho thấy hiệu quả kinh tế cao, phù hợp với nhiều vùng sinh thái, đồng thời góp phần giữ chân lao động trẻ ở khu vực nông thôn.
Nhấn mạnh vai trò của đổi mới sáng tạo, ông Hùng cho rằng yếu tố cốt lõi không nằm ở việc chạy theo công nghệ cao bằng mọi giá, mà là lựa chọn “công nghệ phù hợp” với điều kiện và lợi thế cạnh tranh của từng vùng sinh thái. Theo ông, hiệu quả kinh tế phải được đặt ở trung tâm, song song với việc phát triển nguồn nhân lực và xây dựng mối liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp, nông dân và thị trường tiêu thụ, nhằm bảo đảm quá trình chuyển đổi sang nông nghiệp công nghệ cao diễn ra bền vững và lâu dài.
2025–2026 LÀ THỜI ĐIỂM THEN CHỐT ĐỂ CÁC NGÂN HÀNG NÂNG CAO MINH BẠCH, TRÁNH “GREENWASHING”
Tín dụng xanh cho nông nghiệp bền vững là một vấn đề được các doanh nghiệp quan tâm tìm hiểu. TS. Nguyễn Thị Thu Hà, Giám đốc Trường Đào tạo Cán bộ kiêm Phó Trưởng ban Chỉ đạo ESG Agribank, nhấn mạnh tín dụng xanh là đòn bẩy tài chính quan trọng, góp phần thúc đẩy nông nghiệp bền vững, hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng xanh và cam kết phát thải ròng bằng 0 của Việt Nam.
Quá trình phát triển tín dụng xanh vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức, từ khung pháp lý, hệ thống tiêu chí định lượng, quản trị rủi ro dài hạn cho đến năng lực thực thi các tiêu chuẩn ESG của doanh nghiệp và tổ chức tín dụng
Theo TS. Nguyễn Thị Thu Hà, trong những năm qua Agribank đã tiên phong triển khai tín dụng xanh trong lĩnh vực nông nghiệp với quy mô ngày càng mở rộng, tập trung ưu tiên các mô hình sản xuất thân thiện với môi trường, tiết kiệm tài nguyên, ứng dụng công nghệ cao và phát triển kinh tế tuần hoàn.
Tuy nhiên, bà Hà cũng chỉ ra rằng quá trình phát triển tín dụng xanh vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức, từ khung pháp lý, hệ thống tiêu chí định lượng, quản trị rủi ro dài hạn cho đến năng lực thực thi các tiêu chuẩn ESG của doanh nghiệp và tổ chức tín dụng.
Để tín dụng xanh thực sự trở thành động lực cho nông nghiệp phát thải thấp và phát triển bền vững, TS. Nguyễn Thị Thu Hà đề xuất cần tiếp tục hoàn thiện chính sách, tăng cường phối hợp giữa Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, các tổ chức tín dụng và cộng đồng doanh nghiệp; đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số, mở rộng hợp tác quốc tế và phát triển thị trường carbon trong thời gian tới.
Chia sẻ về tiến bộ của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong thực hành ESG và tín dụng xanh, TS. Bùi Thị Thu Loan, Trưởng khoa Tài chính, Trường Kinh tế - Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội, khẳng định hệ thống ngân hàng Việt Nam đã có những bước tiến đáng ghi nhận trong thực hành ESG và phát triển tín dụng xanh, thể hiện qua việc ngày càng nhiều ngân hàng ban hành chính sách rủi ro môi trường – xã hội, công bố cam kết ESG và tích hợp ESG vào chiến lược kinh doanh.
“Tín dụng xanh tăng trưởng tích cực nhưng hiện vẫn chiếm tỷ trọng khiêm tốn trong tổng dư nợ, chủ yếu tập trung vào năng lượng tái tạo và nông nghiệp xanh”, TS Thu Loan nói. Bà cho biết trong ba trụ cột ESG, yếu tố Quản trị và Xã hội có nhiều cải thiện rõ nét, trong khi cam kết về Môi trường còn hạn chế và chưa tiệm cận các chuẩn mực quốc tế.
Đặc biệt, TS Thu Loan nhấn mạnh giai đoạn 2025–2026 sẽ là thời điểm then chốt để các ngân hàng nâng cao tính minh bạch, tránh “greenwashing” và chuyển từ cam kết sang thực thi ESG thực chất, qua đó đóng góp hiệu quả hơn cho mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam.
“Các cam kết rất nhiều, nhưng thực tế các hành động cụ thể của các ngân hàng trong ESG vẫn còn “hơi mờ"; tuy nhiên, với bối cảnh hiện tại, việc “nói đi đôi với làm" đang trở thành áp lực thực hành của các ngân hàng. Điều này sẽ tạo nên một môi trường thuận lợi hơn cho tài chính xanh cho doanh nghiệp nông nghiệp tại Việt Nam”, TS. Bùi Thị Thu Loan cho biết.
Nếu tận dụng tốt trí tuệ nhân tạo và Agentic AI, Việt Nam không chỉ tiếp cận nhanh mà còn có thể tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, thậm chí xuất khẩu công nghệ và thuốc…
Hợp tác Việt Nam - Hàn Quốc ngày càng đi vào chiều sâu, không chỉ ở thương mại và đầu tư mà còn mở rộng sang khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuỗi cung ứng…
Đến cuối tháng 3/2026, tỷ lệ phủ sóng 5G đạt 91,9% dân số, với hơn 22,4 triệu thuê bao. Trong giai đoạn tới, yêu cầu đặt ra sẽ là khai thác hiệu quả các khoản đầu tư hạ tầng…
Trước làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng công nghệ cao, các chuyên gia đầu ngành khẳng định Việt Nam hoàn toàn có khả năng tạo dấu ấn trong lĩnh vực bán dẫn và vật liệu mới…
AI, robot tự hành và mô hình "nhà máy không ánh đèn" (Dark Factory) không còn là khái niệm xa vời với ngành logistics mà đang hiện diện ngay tại Việt Nam…
Năm 2026, nhiều doanh nghiệp đã chuyển từ thử nghiệm sang triển khai trí tuệ nhân tạo (AI) trong thực tế. Tuy nhiên, khoảng cách giữa “ứng dụng AI” và “tạo ra tác động kinh doanh” vẫn còn lớn…
Việt Nam được đánh giá không chỉ là một thị trường tăng trưởng nhanh, mà còn là một quốc gia có năng lực khoa học ngày càng phát triển và tầm ảnh hưởng trong khu vực...
The Wise Talk số 18 với chủ đề “Agentic AI & Hệ Gene: Bước ngoặt cho y học chính xác” được phát sóng trên trang chủ của VnEconomy vào 14:00 ngày 22/04/2026.
Việt Nam chưa phải là một trong nhóm các quốc gia có hệ thống trung tâm dữ liệu AI lớn nhất thế giới. Tiến sĩ Lê Quang Đạm cho rằng nếu chạy theo quy mô, chúng ta sẽ phải cạnh tranh trực tiếp với những thị trường có lợi thế vượt trội về vốn, công nghệ và năng lượng…
Sự giao thoa giữa Agentic AI và Hệ gene đang tạo nên một 'cú hích' lịch sử, định nghĩa lại khái niệm chăm sóc sức khỏe trên toàn cầu và tại Việt Nam. Không chỉ dừng lại ở vai trò hỗ trợ, trí tuệ nhân tạo thế hệ mới giờ đây đóng vai trò như một cộng sự tự chủ, có khả năng xử lý những tầng dữ liệu di truyền phức tạp để mở ra những bước ngoặt thực thụ cho nền y học chính xác...