Tại sao các tập đoàn FDI tin dùng nữ lãnh đạo công nghệ Việt hơn doanh nghiệp nội?
Bảo Bình
03/03/2026
Các nhà đầu tư quốc tế đặt niềm tin rõ ràng vào năng lực chuyên môn và khả năng điều hành của phụ nữ Việt Nam...
Theo Báo cáo nghiên cứu thảo luận chính sách về Quản trị và Tham gia “Nâng cao vị thế của phụ nữ trong lãnh đạo và quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong khu vực công tại Việt Nam” do Trung tâm Ứng dụng Khoa học và Khởi nghiệp và Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tại Việt Nam phối hợp thực hiện năm 2025, Việt Nam đã đạt được một số tiến bộ trong thúc đẩy bình đẳng giới trong khu vực công nói chung, song vẫn còn khoảng cách đáng kể về giới trong các vị trí lãnh đạo, đặc biệt ở các lĩnh vực kỹ thuật, khoa học và công nghệ.
RÀO CẢN CỦA PHỤ NỮ TRONG CÁC NGÀNH DEEPTECH
Theo bà Nguyễn Thị Kiều Quyên, Giám đốc Quốc gia, Đại sứ của tổ chức Women in Tech Vietnam, CEO công ty phát triển phần mềm SHAREWORK, rào cản của phụ nữ trong các lĩnh vực chuyên sâu như AI, blockchain hay bán dẫn không xuất phát từ năng lực, mà chủ yếu đến từ hệ sinh thái xung quanh họ.
Thứ nhất, khoảng cách trong tiếp cận công nghệ chuyên sâu. Những lĩnh vực này đòi hỏi nền tảng STEM vững chắc và quá trình đào tạo bài bản. Trong nhiều năm, phụ nữ chưa được khuyến khích mạnh mẽ theo đuổi các ngành kỹ thuật ngay từ đầu. Dù tư duy xã hội đã thay đổi tích cực, vẫn còn tồn tại định kiến rằng kỹ thuật là lĩnh vực thiên về nam giới.
Thứ hai, hạn chế về mạng lưới và cơ hội. Các xu hướng công nghệ mới thường phát triển trong những cộng đồng có mentor, có hệ sinh thái khởi nghiệp và đầu tư năng động. Tuy nhiên, tại Việt Nam, khái niệm startup – đặc biệt là startup công nghệ sâu (deeptech) – đôi khi vẫn chưa được hiểu đúng, dẫn đến hệ sinh thái hỗ trợ chưa thực sự hoàn chỉnh. Phụ nữ vì thế gặp khó trong việc tiếp cận mạng lưới cố vấn, nhà đầu tư và cộng đồng chuyên môn ở tầm quốc tế.
Thứ ba, yếu tố văn hóa – xã hội. Phụ nữ vẫn thường gánh nhiều trách nhiệm gia đình hơn nam giới, trong khi các ngành như AI hay bán dẫn đòi hỏi cường độ làm việc cao và cập nhật kiến thức liên tục. Nếu thiếu sự chia sẻ trách nhiệm và môi trường hỗ trợ phù hợp, họ sẽ gặp nhiều thách thức hơn trên hành trình theo đuổi công nghệ sâu.
Chia sẻ với Tạp chí Kinh tế Việt Nam / VnEconomy, bà Phan Thị Thảo Hương, Giám đốc dữ liệu FPT Digital, Tập đoàn FPT, cho biết ngay từ khi còn ngồi trên ghế giảng đường, nhiều nam sinh công nghệ đã quen với việc xung quanh mình gần như toàn là nam giới. Sự quen thuộc đó theo họ vào phòng họp. Và khi bước vào một không gian mà phần lớn đều xuất thân từ cùng một hệ đào tạo kỹ thuật, người ta dễ mặc định rằng những người đàn ông trong phòng đương nhiên hiểu vấn đề, còn sự hiện diện của một người phụ nữ ngang cấp đôi khi vẫn là điều... hơi lạ.
“Tôi đã từng ở trong những cuộc thảo luận mà ý tưởng của mình chỉ thực sự được chú ý khi có đồng nghiệp nam khác diễn đạt lại. Tôi cũng từng phải rất cẩn trọng trong việc chọn từ, dò đúng từ khóa kỹ thuật, liên tục cập nhật bộ từ điển của mình để tránh việc cuộc trao đổi bị chệch hướng hoặc đứt quãng chỉ vì khác biệt ngôn ngữ chuyên môn”, bà Thảo Hương chia sẻ.
“Tôi thừa nhận vẫn gặp tình trạng này dù đã làm việc hơn 10 năm trong nghề. Nhưng tôi không xem nó là bất công để than phiền. Tôi xem nó là bài kiểm tra tiêu chuẩn cao hơn. Thay vì cố nói nhiều hơn để lấp đầy khoảng trống tin cậy, tôi chọn nói chính xác hơn. Tôi chuẩn bị kỹ hơn mức cần thiết. Nếu bàn về dữ liệu, tôi nắm chắc số liệu. Nếu bàn về kiến trúc sản phẩm, tôi hiểu đủ sâu để đặt câu hỏi đúng trọng tâm”.
CÁC LÃNH ĐẠO QUỐC TẾ NHÌN NHẬN RẤT TÍCH CỰC VỀ TIỀM NĂNG CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM
Nói về năng lực của phụ nữ Việt Nam trong ngành công nghệ, bà Nguyễn Thị Kiều Quyên cho biết: “Vấn đề không nằm ở năng lực, mà ở hệ sinh thái: từ hình mẫu truyền cảm hứng, cơ hội đào tạo, mạng lưới kết nối đến thay đổi tư duy xã hội”, bà Quyên cho biết.
“Khi những yếu tố này được cải thiện đồng bộ, phụ nữ hoàn toàn có thể tham gia sâu và dẫn dắt các lĩnh vực công nghệ mới nổi”. Đặc biệt, theo Đại sứ Women in Tech Vietnam, năng lực của phụ nữ Việt Nam đã được thị trường quốc tế ghi nhận. “Khách hàng Nhật Bản, khách hàng châu Âu đều đánh giá cao năng lực của phụ nữ Việt Nam trong ngành công nghệ”.
Theo bà, khi thống kê ở các công ty công nghệ FDI, đặc biệt ở cấp trung và cấp cao, tỷ lệ nữ lãnh đạo “cao hơn đáng kể”. Điều này phần nào liên quan đến việc các lãnh đạo quốc tế nhìn nhận rất tích cực về tiềm năng của phụ nữ Việt Nam. Họ đánh giá cao năng lực chuyên môn, sự bền bỉ và khả năng thích nghi của phụ nữ Việt, Đại sứ Women in Tech Vietnam chia sẻ.
“Tại không ít doanh nghiệp công nghệ có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam, vị trí CTO (Giám đốc công nghệ) do phụ nữ đảm nhiệm. Ở một số tập đoàn châu Âu hoạt động tại Việt Nam, “chiếc ghế” tổng giám đốc cũng thuộc về nữ lãnh đạo”, bà Kiều Quyên nói. “Điều này cho thấy các nhà đầu tư quốc tế, sau quá trình khảo sát và đánh giá thị trường, đã đặt niềm tin rõ ràng vào năng lực chuyên môn và khả năng điều hành của phụ nữ Việt Nam”.
“Các tập đoàn quốc tế thường có chính sách rõ ràng về đa dạng giới, về lãnh đạo bao trùm, về KPI cụ thể cho tỷ lệ nữ trong quản lý. Họ thiết kế hệ thống quản trị với mục tiêu tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển. Khi môi trường được thiết kế như vậy, phụ nữ sẽ có cơ hội thể hiện và được trao quyền”, bà Kiều Quyên cho biết.
PHỤ NỮ VIỆT CÒN THIẾU MẠNG LƯỚI VÀ CƠ HỘI TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI TOÀN CẦU
Trong khi đó, tại nhiều doanh nghiệp trong nước, cơ cấu lãnh đạo và quá trình bổ nhiệm có thể chưa thực sự chú trọng đến yếu tố đa dạng giới. Vì vậy, sự khác biệt không hẳn nằm ở năng lực, mà ở cách hệ sinh thái được thiết kế để mở ra cơ hội.
Rất nhiều phụ nữ giỏi chuyên môn, nhưng chưa có cơ hội tham gia các dự án công nghệ lõi, chưa được tiếp cận trực tiếp với khách hàng quốc tế hoặc thị trường toàn cầu.
Theo bà Quyên, phụ nữ công nghệ Việt Nam không thiếu năng lực. Điều họ thiếu nhất là cơ hội tiếp cận hệ sinh thái toàn cầu và không gian ra quyết định ở tầm chiến lược. Rất nhiều phụ nữ giỏi chuyên môn, nhưng chưa có cơ hội tham gia các dự án công nghệ lõi, chưa được tiếp cận trực tiếp với khách hàng quốc tế hoặc thị trường toàn cầu. Khi không được tham gia vào những “bàn tròn” chiến lược, họ khó có thể tích lũy kinh nghiệm lãnh đạo ở tầm cao hơn.
Ngoài ra, đối với các nữ founder startup, câu chuyện còn là mạng lưới và vốn. Họ cần được kết nối với hệ sinh thái công nghệ và đầu tư đúng nghĩa, được tiếp cận nguồn vốn trong và ngoài nước, đặc biệt là vốn quốc tế. Startup công nghệ đòi hỏi không chỉ ý tưởng và năng lực kỹ thuật, mà còn cần mạng lưới nhà đầu tư, cố vấn và thị trường.
Theo Giám đốc Quốc gia, Đại sứ Women in Tech Vietnam, hiện nay Women in Tech Vietnam đang hướng đến mục tiêu kết nối phụ nữ Việt Nam với hệ sinh thái toàn cầu, nâng cao năng lực cạnh tranh của họ trong bối cảnh công nghệ và AI đang thay đổi rất nhanh trên phạm vi toàn thế giới.
Việt Nam đã nghiên cứu xây dựng bộ Chỉ tiêu Thống kê Việc làm Xanh, đánh dấu một bước tiến quan trọng, là cơ sở để sớm chính thức ban hành, nhằm củng cố hệ thống thống kê, hỗ trợ tăng trưởng xanh và phát triển bền vững...
Nhiều đạo luật và văn bản quan trọng về công nghệ số được Quốc hội thông qua trong thời gian ngắn cho thấy Việt Nam đang bước vào giai đoạn “lập pháp số” với tốc độ cao...
Deep-tech không ưu tiên giới tính. Nó ưu tiên người làm được việc và đi được đường dài. Trong môi trường công nghệ vốn được xem là “man’s world”, phụ nữ Việt Nam đang ngày càng chứng minh lợi thế riêng...
Việt Nam đang ở giai đoạn dân số vàng – cơ hội hiếm có để bứt phá về tăng trưởng và vị thế quốc gia. Tuy nhiên, khi nguồn lực và kỹ năng số còn thiếu hụt, đặc biệt là năng lực an toàn số và mật độ sinh viên STEM thấp so với quốc tế, “mỏ vàng” ấy có nguy cơ bị bỏ lỡ...
Các nhà chuyên môn cho rằng chính sách công nghệ không thể đứng ngoài nhiệm vụ bảo vệ và nuôi dưỡng sức khỏe tinh thần của thế hệ trẻ...
Theo các chuyên gia, việc chính thức đưa tài sản mã hóa vào khuôn khổ qua cơ chế thí điểm sàn giao dịch từ đầu năm 2026 không chỉ là bước đi thận trọng để xóa bỏ "vùng xám" pháp lý mà còn được kỳ vọng sẽ giúp củng cố niềm tin cho các nhà đầu tư...
Nếu AI đang là tâm điểm của cuộc đua công nghệ hiện nay, thì công nghệ lượng tử được xem là “bước tiếp theo”...
Việt Nam không chỉ phát triển thị trường, mà còn chú trọng hoàn thiện khung khổ quản trị số – từ chính sách pháp lý, thiết chế thực thi đến chiến lược về hạ tầng và trí tuệ nhân tạo…
Với công nghệ lượng tử, Việt Nam có thể gia nhập “cuộc chơi” không phải với tư thế “chạy theo” thế giới, mà với vai trò “đồng phát triển” và đóng góp ý nghĩa vào quá trình định hình công nghệ này.
AI đang lan truyền với tốc độ quá nhanh, thâm nhập vào hầu hết mọi lĩnh vực, mọi ngành nghề trong xã hội Việt Nam. Dù muốn hay không, AI đang và sẽ trở thành môi trường sống, không gian hoạt động mà con người phải song hành...