image Thứ Ba, 08/09/2026

Môi trường đổi mới sáng tạo ở Việt Nam "còn nhiều thách thức"

Bảo Bình

14/03/2026

Chia sẻ

Hệ sinh thái của các nước phát triển đã hoàn chỉnh, các cấu phần đều chuyên nghiệp và vận hành trơn tru trong điều kiện tiêu chuẩn. Còn ở Việt Nam, nhiều thứ vẫn đang trong quá trình hình thành…

Quá trình hình thành một doanh nghiệp công nghệ thành công thực chất là một chuỗi phát triển dài và phức tạp. Ảnh minh họa
Quá trình hình thành một doanh nghiệp công nghệ thành công thực chất là một chuỗi phát triển dài và phức tạp. Ảnh minh họa

Trong những năm gần đây, khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo trở thành từ khóa được nhắc đến ngày càng nhiều trong chính sách và chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam. Theo Tiến sĩ Nguyễn Trung Dũng, Chủ tịch Mạng lưới Trung tâm Đổi mới sáng tạo và Khởi nghiệp Đại học và Cao đẳng Việt Nam (VNEI), Tổng Giám đốc BK Holdings (Đại học Bách Khoa Hà Nội), nếu chỉ tập trung thúc đẩy startup và các hoạt động đổi mới sáng tạo ở “phần ngọn” mà thiếu nền tảng khoa học – công nghệ vững chắc ở “phần gốc”, hệ sinh thái khó có thể phát triển bền vững.

NỀN TẢNG KHOA HỌC – CÔNG NGHỆ LÀ “BỆ ĐỠ” CỦA ĐỔI MỚI SÁNG TẠO

“Để đi tới đỉnh cao của đổi mới sáng tạo, bắt buộc phải có một nền tảng khoa học – công nghệ đủ mạnh ở phía dưới. Chúng ta phải thực sự làm chủ công nghệ, phải tạo ra những kết quả nghiên cứu mới và mang tính đột phá. Nếu phần đế không vững thì rất khó để xây dựng phần ngọn là các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo”, Tiến sĩ Nguyễn Trung Dũng nhận định.

Theo chuyên gia, quá trình hình thành một doanh nghiệp công nghệ thành công thực chất là một chuỗi phát triển dài và phức tạp. Từ một ý tưởng ban đầu trong phòng thí nghiệm, công nghệ phải trải qua nhiều giai đoạn như nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, phát triển sản phẩm, thử nghiệm thị trường, ươm tạo, tăng tốc và gọi vốn trước khi có thể trở thành doanh nghiệp quy mô lớn hay niêm yết trên thị trường chứng khoán (IPO).

Ở mỗi giai đoạn, cách đầu tư và hỗ trợ phải hoàn toàn khác nhau. Nếu chúng ta không hiểu rõ logic phát triển này mà chỉ kỳ vọng có startup thành công ngay lập tức thì gần như là bất khả thi

Trong giới chuyên môn, toàn bộ quá trình này thường được chia thành 9 cấp độ sẵn sàng công nghệ – gọi là Technology Readiness Level (TRL) – từ cấp độ 1 đến cấp độ 9. Mỗi cấp độ đều có “luật chơi” riêng, đòi hỏi những cơ chế hỗ trợ, nguồn lực và phương thức quản lý khác nhau.

“Ở mỗi giai đoạn, cách đầu tư và hỗ trợ phải hoàn toàn khác nhau. Nếu chúng ta không hiểu rõ logic phát triển này mà chỉ kỳ vọng có startup thành công ngay lập tức thì gần như là bất khả thi”, ông Dũng nói.

Theo ông, một chiến lược phát triển đổi mới sáng tạo hiệu quả cần tác động đồng bộ vào cả “gốc” lẫn “ngọn”. Điều đó đồng nghĩa với việc vừa phải đầu tư cho nghiên cứu khoa học và công nghệ nền tảng, vừa xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ thương mại hóa và khởi nghiệp.

“Chúng ta không thể lúc thì chạy theo phong trào startup, lúc lại quay về chỉ làm nghiên cứu hàn lâm. Chiến lược phải dài hơi, xuyên suốt và kiên định. Nếu chỉ đặt mục tiêu 5 năm phải có kết quả ngay thì rất khó thành công”, ông Dũng nhấn mạnh.

MÔI TRƯỜNG ĐỔI MỚI SÁNG TẠO Ở VIỆT NAM ĐỐI MẶT NHIỀU THÁCH THỨC

Một trong những vấn đề thường được nhắc tới trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo Việt Nam là vai trò của các trường đại học trong quá trình triển khai chính sách. Theo Tiến sĩ Nguyễn Trung Dũng, nhiều chủ trương, chính sách về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được xây dựng ở cấp trung ương với định hướng rất đúng và tầm nhìn dài hạn. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai ở các bộ, ngành và địa phương, đôi khi vẫn còn những cách hiểu và cách tiếp cận khác nhau, khiến hiệu quả thực thi chưa đạt được như kỳ vọng ban đầu.

Theo ông, điều quan trọng là các cơ quan quản lý cần tiếp tục làm rõ “đề bài” ngay từ khâu thiết kế chính sách, đồng thời tăng cường trao đổi, hướng dẫn trong quá trình triển khai để các đơn vị thực thi có thể hiểu đúng tinh thần và mục tiêu của chính sách.

“Nhiều văn bản chính sách được xây dựng với sự tham gia của các chuyên gia rất giỏi nên định hướng tổng thể là rất chuẩn xác. Nếu trong quá trình triển khai có thêm sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp và các bên liên quan, thì hiệu quả thực thi chắc chắn sẽ được phát huy tốt hơn”, ông Dũng cho biết.

Nếu trong quá trình triển khai có thêm sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp và các bên liên quan, thì hiệu quả thực thi chắc chắn sẽ được phát huy tốt hơn. Ảnh minh họa
Nếu trong quá trình triển khai có thêm sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp và các bên liên quan, thì hiệu quả thực thi chắc chắn sẽ được phát huy tốt hơn. Ảnh minh họa

Một khó khăn khác là môi trường phát triển đổi mới sáng tạo ở Việt Nam còn nhiều thách thức hơn so với các nước phát triển. “Tôi thường nói vui rằng một người thành công ở Việt Nam phải giỏi gấp nhiều lần người thành công ở Mỹ. Ở các nước phát triển, hệ sinh thái của họ đã hoàn chỉnh, các cấu phần đều chuyên nghiệp và vận hành trơn tru trong điều kiện tiêu chuẩn. Còn ở Việt Nam, nhiều thứ vẫn đang trong quá trình hình thành”, ông chia sẻ.

Bên cạnh yếu tố chính sách, các trường đại học cũng đang đối mặt với áp lực tài chính rất lớn. Phần lớn nguồn thu của các trường hiện nay đến từ học phí, khiến ban lãnh đạo phải ưu tiên tuyển sinh để đảm bảo nguồn tài chính trước mắt, thay vì đầu tư cho các hoạt động nghiên cứu và đổi mới sáng tạo vốn mang tính dài hạn và nhiều rủi ro.

“Khi gần như 100% nguồn thu đến từ học phí, các trường buộc phải tập trung vào đào tạo để tồn tại. Trong bối cảnh đó, việc đầu tư mạnh cho đổi mới sáng tạo là điều không dễ”, ông Dũng nói.

XÂY DỰNG CỘNG ĐỒNG VÀ CHIA SẺ KINH NGHIỆM GIỮA CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC

Từ kinh nghiệm hơn 15 năm xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tại Đại học Bách Khoa Hà Nội, ông cho rằng một yếu tố quan trọng để thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong đại học là sự xuất hiện của các tổ chức trung gian chuyên nghiệp. Những tổ chức này có thể tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau như doanh nghiệp trực thuộc trường, văn phòng chuyển giao công nghệ, trung tâm đổi mới sáng tạo hoặc các đơn vị dịch vụ bên ngoài.

“Doanh nghiệp trực thuộc trường như BK Holdings là một trong nhiều mô hình tổ chức trung gian. Điều quan trọng là phải có một cấu trúc đủ chuyên nghiệp để kết nối nghiên cứu khoa học với doanh nghiệp và thị trường”, ông Dũng cho biết.

Một bài học khác mà ông rút ra là tầm quan trọng của việc xây dựng cộng đồng và chia sẻ kinh nghiệm giữa các trường đại học. Theo ông, nếu mỗi đơn vị hoạt động riêng lẻ thì rất khó tạo ra tác động lớn. Đó cũng là lý do Mạng lưới Trung tâm Đổi mới sáng tạo và Khởi nghiệp Đại học và Cao đẳng Việt Nam (VNEI) được thành lập, quy tụ gần 100 trường đại học trên cả nước.

Trong lĩnh vực đổi mới sáng tạo, khi nguồn lực được tập trung đúng chỗ và có cơ chế vận hành phù hợp, các trường đại học sẽ có điều kiện phát huy tối đa năng lực nghiên cứu, ươm tạo và thương mại hóa công nghệ

“Mục tiêu của mạng lưới là để các trường cùng ngồi lại chia sẻ kinh nghiệm, cùng bàn bạc những khó khăn và cùng lên tiếng về các vấn đề chính sách. Khi nhiều đơn vị cùng nói thì tiếng nói sẽ có trọng lượng hơn”, ông Dũng nói. Theo ông, việc chia sẻ trong cộng đồng này cần được thực hiện một cách thẳng thắn và thực chất.

“Chúng tôi sẵn sàng chia sẻ cả những sai lầm trong quá khứ – những chỗ từng làm sai, từng vấp ngã – để các đơn vị đi sau không lặp lại, có thể tránh những ‘ổ gà, ổ voi’ mà các đơn vị khác từng gặp”, ông chia sẻ.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Trung Dũng, để hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phát triển mạnh mẽ hơn, việc phân bổ nguồn lực cũng cần được cân nhắc theo hướng tập trung và tạo điều kiện cho những mô hình có tiềm năng phát huy hiệu quả.

“Trong lĩnh vực đổi mới sáng tạo, khi nguồn lực được tập trung đúng chỗ và có cơ chế vận hành phù hợp, các trường đại học sẽ có điều kiện phát huy tối đa năng lực nghiên cứu, ươm tạo và thương mại hóa công nghệ. Điều đó không chỉ giúp hình thành thêm nhiều doanh nghiệp công nghệ mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển chung của hệ sinh thái”, ông Dũng chia sẻ.

Tiến sĩ Nguyễn Trung Dũng nhấn mạnh đổi mới sáng tạo không phải là câu chuyện của một vài startup hay một vài chương trình hỗ trợ khởi nghiệp, mà là một hệ sinh thái phức tạp đòi hỏi sự phối hợp của nhiều thành phần – từ nhà nước, trường đại học, viện nghiên cứu đến doanh nghiệp và nhà đầu tư.

“Muốn hệ sinh thái phát triển bền vững, chúng ta phải xây dựng được nền móng khoa học – công nghệ vững chắc, đồng thời tạo ra các cơ chế để kết nối nghiên cứu với thị trường. Nếu chỉ chạy theo phần ngọn mà bỏ quên phần gốc thì rất khó tạo ra những doanh nghiệp công nghệ thực sự có sức cạnh tranh toàn cầu”, ông Dũng nhấn mạnh.


Giải bài toán hạ tầng thử nghiệm cho doanh nghiệp UAV Việt Nam

Đối với những công nghệ mới và đặc biệt như UAV, hạ tầng thử nghiệm có vai trò rất quan trọng. Trong khi đó, các doanh nghiệp mới, đặc biệt là startup, chưa có đủ nguồn lực để tự đầu tư một hệ thống hạ tầng thử nghiệm riêng…

15:42 08/09/2026
Kinh nghiệm thu hẹp khoảng cách từ thử nghiệm đến thương mại hóa bán dẫn Việt Nam

Một trong những yếu tố then chốt phát triển hệ sinh thái bán dẫn là tạo ra cơ chế để các ý tưởng, thiết kế và công nghệ có thể đi qua các bước kiểm chứng trước khi được đưa vào sản xuất hoặc thương mại hóa…

11:23 07/09/2026
Nhân tài AI có thể trở thành động lực thu hút đầu tư cho Việt Nam

Nếu Việt Nam hình thành được một số cụm AI có khả năng quy tụ nhà nghiên cứu, startup, doanh nghiệp lớn và các trung tâm R&D quốc tế, nhân tài có thể trở thành một trong những lợi thế cạnh tranh mới của nền kinh tế…

09:20 04/09/2026
Hạ tầng dữ liệu tin cậy tạo nền tảng đưa tài sản mã hóa vào thị trường vốn

Thí điểm thị trường tài sản mã hóa mới chỉ là bước khởi đầu. Để tài sản này thực sự tham gia thị trường vốn, Việt Nam cần đồng thời hoàn thiện pháp lý, quy chuẩn về RWA, hạ tầng dữ liệu tin cậy và cơ chế bảo vệ nhà đầu tư...

10:32 03/09/2026
Công nghệ mở rộng thị trường chăm sóc sức khỏe, sắc đẹp: Bài toán phía sau tăng trưởng

Công nghệ đang mở rộng nhanh thị trường chăm sóc sức khỏe và sắc đẹp, nhưng bài toán đặt ra không chỉ là đưa thêm công nghệ vào sản phẩm, mà còn phải bảo đảm chất lượng, an toàn, hiệu quả và tuân thủ…

08:44 03/09/2026
UAV “Make in Vietnam” và bài toán “đơn hàng đầu tiên”

Việt Nam đã bắt đầu hình thành những ứng dụng UAV thực tế trong nông nghiệp, y tế, đô thị, điện lực, viễn thông, song hệ sinh thái vẫn còn nhỏ và phần lớn đang thử nghiệm…

09:29 28/08/2026
Hoàn thiện chính sách cho lao động qua nền tảng số: Kỳ vọng từ Công ước của ILO

Công ước 193 có giá trị tham khảo lớn đối với quá trình hoàn thiện chính sách tại Việt Nam, nhất là với tài xế công nghệ, người giao hàng, freelancer và những người làm việc qua ứng dụng…

08:49 26/08/2026
Xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo Việt Nam: Kinh nghiệm từ Đại học Tokyo

Đối với doanh nghiệp công nghệ bắt nguồn từ nghiên cứu, khả năng tiếp cận khách hàng, doanh nghiệp, đối tác công nghiệp và thị trường quốc tế mới quyết định công nghệ có thể phát triển thành doanh nghiệp quy mô lớn hay không…

14:04 25/08/2026
Phụ nữ Việt đang “biến mất” ở nấc thang nào trong sự nghiệp công nghệ?

Phụ nữ có thể chiếm tỷ lệ đáng kể ở đầu vào của các ngành STEM, nhưng sự hiện diện này không phải lúc nào cũng được duy trì khi bước lên những nấc cao hơn của thị trường công nghệ…

13:47 24/08/2026
Khi AI hóa "tri kỷ": Góc khuất bảo mật và bài toán phòng thủ của doanh nghiệp Việt

Khi sự tiện ích và thấu cảm của trí tuệ nhân tạo (AI) vô tình biến công nghệ này thành một "tri kỷ ảo", các doanh nghiệp Việt cũng đồng thời phải đối mặt với những góc khuất rủi ro bảo mật và những bài toán về an ninh mạng chưa có tiền lệ.

10:10 22/08/2026