image Thứ Sáu, 22/05/2026

Ngân sách nghiên cứu khoa học công nghệ của Việt Nam vẫn thấp hơn trung bình thế giới

Bảo Bình

06/04/2026

Chia sẻ

Theo chuyên gia, vấn đề lớn nhất của Việt Nam hiện nay không nằm ở định hướng hay chiến lược, mà cái khó là biến nó thành thực thi trong thực tiễn...

Việt Nam đã quan tâm đến khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo từ nhiều năm trước. Ảnh minh họa
Việt Nam đã quan tâm đến khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo từ nhiều năm trước. Ảnh minh họa

Theo PGS.TS. Vũ Sỹ Cường, Học viện Tài chính, nguồn lực cho đổi mới sáng tạo có thể chia thành ba nhóm chính. Thứ nhất là nguồn lực từ phía Nhà nước, tức ngân sách; thứ hai là từ doanh nghiệp; và thứ ba là từ thị trường.

CAM KẾT 2% TỪ RẤT SỚM, NHƯNG CHƯA MỘT LẦN ĐẠT MỤC TIÊU

PGS.TS. Vũ Sỹ Cường cho biết không phải đến bây giờ Việt Nam mới quan tâm đến khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Ngay từ những năm đầu của thời kỳ đổi mới, cụ thể là năm 1992, Nghị định 35-HĐBT đã yêu cầu tăng cường huy động nguồn tài chính cho khoa học công nghệ, xác định khoa học công nghệ là một trong những mục tiêu then chốt cho phát triển kinh tế.

“Thời điểm đó, chúng ta chưa dùng khái niệm “đổi mới sáng tạo” mà chủ yếu nói đến khoa học công nghệ, nhưng tư duy cốt lõi đã có”, PGS.TS. Vũ Sỹ Cường nói. “Nghị định 35-HĐBT đã đề rõ “hàng năm, Nhà nước dành ít nhất 2% ngân sách Nhà nước cho nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ”.

Nếu bản thân ngân sách nhà nước – nguồn lực chủ động nhất – còn chưa thực hiện được mục tiêu đề ra, thì liệu chúng ta có thể kỳ vọng vào nguồn lực từ doanh nghiệp và thị trường hay không?
PGS.TS. Vũ Sỹ Cường

Mục tiêu ít nhất 2% tổng chi ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ cũng đã được nhắc lại nhiều lần trong các văn bản như Nghị quyết 20-NQ/TW năm 2012, Luật Khoa học và Công nghệ 2013 và Nghị quyết 57-NQ/TW tiếp tục duy trì và nâng cao yêu cầu “hướng tới 2% GDP cho R&D tổng thể và ít nhất 3% tổng chi ngân sách cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo”.

Tuy nhiên, trong nhiều năm, tỷ lệ chi chỉ dao động quanh mức 1%, năm cao nhất cũng chỉ tiệm cận khoảng 1,8% nhưng vẫn chưa đạt ngưỡng đề ra. Và ngay cả hiện nay, tình hình cũng chưa thay đổi đáng kể. “Điều này đặt ra câu hỏi: nếu bản thân ngân sách nhà nước – nguồn lực chủ động nhất – còn chưa thực hiện được mục tiêu đề ra, thì liệu chúng ta có thể kỳ vọng vào nguồn lực từ doanh nghiệp và thị trường hay không?”, PGS.TS. Vũ Sỹ Cường đặt câu hỏi.

Song song với chính sách chi ngân sách, Việt Nam cũng có nhiều cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho khoa học công nghệ, như ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, tiền thuê đất…. Tuy nhiên, hiệu quả khá hạn chế, các ưu đãi chưa đủ hấp dẫn, khó triển khai. Theo số liệu thống kê, mức chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D) của khu vực doanh nghiệp Việt Nam hiện chỉ khoảng 0,2% GDP, thấp hơn rất nhiều so với nhiều quốc gia khác. Tổng chi quốc gia cho nghiên cứu và phát triển khoảng 0,4% GDP, chỉ nhỉnh hơn một số ít nước như Philippines.

VnEconomy

Dữ liệu từ Bộ Khoa học và Công nghệ cho thấy, từ năm 2015 đến nay, tổng chi cho nghiên cứu phát triển có tăng về mặt danh nghĩa, từ khoảng 18.000 tỷ đồng lên khoảng 42.000 tỷ đồng vào năm 2023. Tuy nhiên, nếu loại trừ yếu tố lạm phát, mức tăng này gần như không đáng kể. Trong gần 10 năm, với mức lạm phát trung bình khoảng 6–7% mỗi năm, có thể nói là “chi thực tế gần như không tăng”.

“Đầu tư cho R&D ở Việt Nam chỉ đạt hơn 0,4% GDP, bằng 1⁄4 so với mục tiêu 2% và thấp hơn nhiều so với mức 1,7% ở Trung Quốc và 3,6% ở Hàn Quốc. Trong khi đó, mức chi cho R&D của thế giới năm 2021 là 2,62% GDP, gấp hơn 5 lần Việt Nam theo dữ liệu của World Bank”, PGS.TS. Vũ Sỹ Cường cho biết.

TÂM LÝ E DÈ, KHÔNG DÁM MẠNH DẠN GIẢI NGÂN

Một điểm tích cực là chi từ khu vực ngoài nhà nước, đặc biệt là doanh nghiệp, đang có xu hướng tăng lên. Tuy nhiên, PGS.TS. Vũ Sỹ Cường lưu ý phần lớn khoản chi này đến từ doanh nghiệp nhà nước, trong khi khu vực doanh nghiệp tư nhân – nơi đáng lẽ phải là động lực chính – lại tham gia rất hạn chế.

Mặc dù có chính sách cho phép doanh nghiệp trích tối đa 10% thu nhập, thậm chí nâng lên tối đa 20% thu nhập tính thuế hàng năm kể từ ngày 01/10/2025 theo Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2025 số 67/2025/QH15, để lập quỹ phát triển khoa học công nghệ và được miễn thuế phần này, nhưng khảo sát cho thấy tỷ lệ doanh nghiệp thực sự lập và sử dụng quỹ rất thấp. Nguyên nhân do thủ tục sử dụng quỹ phức tạp, nhiều doanh nghiệp không biết chi tiêu thế nào cho đúng quy định.

 Chi tiêu cho R&D ở khu vực doanh nghiệp, đang có xu hướng tăng lên. Ảnh minh họa
 Chi tiêu cho R&D ở khu vực doanh nghiệp, đang có xu hướng tăng lên. Ảnh minh họa

Không chỉ doanh nghiệp, ngay cả khu vực công cũng gặp nhiều vướng mắc trong quá trình triển khai. Việc giải ngân kinh phí nghiên cứu khoa học thường xuyên bị ách tắc do quy trình hành chính, kế toán và kiểm soát nội bộ. Chỉ cần một khâu không thông suốt, cả đề tài có thể bị đình trệ.

Theo chuyên gia, vấn đề lớn nhất của Việt Nam hiện nay không nằm ở định hướng hay chiến lược. “Các nghị quyết, chính sách của chúng ta có thể nói là rất đúng và đầy đủ. Nhưng cái khó là biến nó thành thực thi trong thực tiễn”, ông nhấn mạnh.

Những rào cản này không chỉ tồn tại ở cấp chính sách vĩ mô mà còn thể hiện rõ trong những trải nghiệm rất cụ thể, như các thủ tục hành chính còn kéo dài, tất cả đều cho thấy khoảng cách lớn giữa mục tiêu chuyển đổi số và thực tế triển khai.

Bên cạnh đó, hàng loạt quỹ hỗ trợ khoa học công nghệ đã được thành lập, từ quỹ phát triển khoa học công nghệ, quỹ đổi mới sáng tạo đến quỹ hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy nhiên, tỷ lệ giải ngân của nhiều quỹ vẫn ở mức thấp.

Một nguyên nhân quan trọng là tâm lý e ngại rủi ro. “Mặc dù đã có những quy định mới, cho phép chấp nhận mức tổn thất nhất định trong đầu tư công nghệ và miễn trách nhiệm trong trường hợp nguyên nhân khách quan, nhưng việc xác định “nguyên nhân khách quan” vẫn rất khó. Điều này khiến nhiều người vẫn e dè, không dám mạnh dạn giải ngân”, chuyên gia nhấn mạnh.

BIẾN CHÍNH SÁCH THÀNH THỰC TẾ

“Tôi cho rằng điều quan trọng hiện nay là làm thế nào để biến các chính sách hiện có thành thực tế”, PGS.TS. Vũ Sỹ Cường chia sẻ. Thứ nhất, thực hiện đúng cam kết về chi ngân sách cho khoa học công nghệ và quan trọng hơn là phải giải ngân được.

Thứ hai, cụ thể hóa các quy định ở mức chi tiết hơn, đặc biệt trong các văn bản dưới luật, để đảm bảo tính khả thi. Đồng thời, cần chấp nhận rủi ro trong đầu tư cho khoa học công nghệ và hạn chế hình sự hóa các sai sót mang tính khách quan. Ông cho biết ở nhiều quốc gia, việc thất bại trong nghiên cứu không bị xử lý hình sự nếu không có yếu tố trục lợi cá nhân.

Thứ ba, cải thiện các chính sách tài chính cho doanh nghiệp, như cho phép chuyển lỗ trong hoạt động nghiên cứu phát triển sang các năm sau để khấu trừ, qua đó tạo động lực đầu tư dài hạn. Hiện nay, các cơ chế này ở Việt Nam còn rất hạn chế.

Thứ tư, cần rà soát toàn bộ hệ thống văn bản pháp lý liên quan, từ luật đến nghị định, để đảm bảo tính đồng bộ và khả thi. Nhiều cơ chế rất tiến bộ trên giấy tờ nhưng khi triển khai lại gặp vướng mắc, đặc biệt trong các vấn đề như góp vốn, phân chia lợi nhuận, sử dụng tài sản công hay khai thác cơ sở vật chất nghiên cứu.

Cuối cùng, ngoài nguồn lực tài chính, PGS.TS. Vũ Sỹ Cường đã đề cập đến thiếu nguồn lực con người khi đội ngũ nghiên cứu “còn rất mỏng”.


Trao quyền cho thanh niên Đồng bằng sông Cửu Long bằng AI và đổi mới sáng tạo

Đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước áp lực phải tìm kiếm những giải pháp phát triển bền vững hơn...

18:45 22/05/2026
Muốn có nhiều kỳ lân, đại học Việt Nam phải có quỹ đầu tư, có doanh nghiệp đầu tư công nghệ

Trường đại học sẽ không chỉ có khoa, viện, trường, lớp nữa, mà phải có Giám đốc chuyển giao công nghệ, phải có quỹ, có vườn ươm, công ty holding để đầu tư vào những giai đoạn mà thị trường chưa sẵn sàng đầu tư...

18:45 22/05/2026
Ngân hàng Việt Nam trước áp lực xây dựng hệ sinh thái số đồng bộ

Điều cần làm là nâng cấp hạ tầng số, hoàn thiện các khung chính sách và cho thế giới thấy Việt Nam là một thị trường dịch vụ tài chính rất cạnh tranh. Nếu được như vậy, rất nhiều công ty từ Đông Nam Á, từ châu Á và châu Âu đổ vào đây…

09:56 22/05/2026
Hacker tấn công bằng "tốc độ máy", doanh nghiệp không thể phòng thủ bằng "tốc độ người"

Trong cuộc chiến bảo vệ an ninh mạng, kẻ tấn công chỉ cần thành công một lần, còn bên phòng thủ phải đúng gần như 100% thời gian…

09:55 22/05/2026
Qua thời đua công nghệ, ngân hàng bước vào "cuộc chiến" làm chủ dữ liệu thông minh

Khoảng cách giữa các ngân hàng trong tương lai sẽ không được quyết định bởi công nghệ họ mua, mà bởi cách họ sử dụng dữ liệu để thay đổi vận hành, ra quyết định và tạo ra giá trị thực tế...

20:56 20/05/2026
Sau mobile banking, ngân hàng Việt đang bước vào cuộc “đại tu” ngân hàng lõi

Sau hơn một thập kỷ dồn lực cho mobile banking và số hóa giao diện khách hàng, ngành ngân hàng Việt Nam đang bước vào một chu kỳ chuyển đổi mới: tái thiết hệ thống lõi…

20:48 19/05/2026
Doanh nghiệp đang bị "quá tải" bởi chính các công cụ bảo mật

Tình trạng công cụ bảo mật rời rạc và khối lượng cảnh báo quá lớn đang khiến hoạt động an ninh mạng của doanh nghiệp trở nên khó kiểm soát hơn bao giờ hết...

20:48 19/05/2026
“Cánh cửa mới” để startup Việt Nam vươn ra toàn cầu

Quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa Việt Nam và Nhật Bản đang ngày càng đi vào thực chất, đổi mới sáng tạo mở đã trở thành cầu nối quan trọng giúp các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận nguồn lực công nghệ và tiêu chuẩn quốc tế…

10:19 18/05/2026
Startup Việt hợp tác với các doanh nghiệp Nhật Bản, ứng dụng AI, IoT giải quyết thách thức xã hội và môi trường

Các Biên bản ghi nhớ (MoU) và hợp đồng giữa startup Việt Nam với các đối tác Nhật Bản đã được ký kết, thiết lập quan hệ hợp tác xuyên biên giới thực chất tại sự kiện Demo Day 2026…

17:57 17/05/2026
Bảo vệ trẻ em trên không gian mạng: Không thể chỉ dừng ở cảnh báo nguy cơ

Khảo sát sơ bộ cho thấy khoảng 9/10 thiếu niên đã được học hoặc tiếp cận nội dung về an toàn mạng, nhưng đồng thời cũng có tới 9/10 em phản ánh đã trực tiếp hoặc gián tiếp đối mặt với các rủi ro trên môi trường số…

17:57 17/05/2026