image Thứ Năm, 13/08/2026

Ngân sách nghiên cứu khoa học công nghệ của Việt Nam vẫn thấp hơn trung bình thế giới

Bảo Bình

06/04/2026

Chia sẻ

Theo chuyên gia, vấn đề lớn nhất của Việt Nam hiện nay không nằm ở định hướng hay chiến lược, mà cái khó là biến nó thành thực thi trong thực tiễn...

Việt Nam đã quan tâm đến khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo từ nhiều năm trước. Ảnh minh họa
Việt Nam đã quan tâm đến khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo từ nhiều năm trước. Ảnh minh họa

Theo PGS.TS. Vũ Sỹ Cường, Học viện Tài chính, nguồn lực cho đổi mới sáng tạo có thể chia thành ba nhóm chính. Thứ nhất là nguồn lực từ phía Nhà nước, tức ngân sách; thứ hai là từ doanh nghiệp; và thứ ba là từ thị trường.

CAM KẾT 2% TỪ RẤT SỚM, NHƯNG CHƯA MỘT LẦN ĐẠT MỤC TIÊU

PGS.TS. Vũ Sỹ Cường cho biết không phải đến bây giờ Việt Nam mới quan tâm đến khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Ngay từ những năm đầu của thời kỳ đổi mới, cụ thể là năm 1992, Nghị định 35-HĐBT đã yêu cầu tăng cường huy động nguồn tài chính cho khoa học công nghệ, xác định khoa học công nghệ là một trong những mục tiêu then chốt cho phát triển kinh tế.

“Thời điểm đó, chúng ta chưa dùng khái niệm “đổi mới sáng tạo” mà chủ yếu nói đến khoa học công nghệ, nhưng tư duy cốt lõi đã có”, PGS.TS. Vũ Sỹ Cường nói. “Nghị định 35-HĐBT đã đề rõ “hàng năm, Nhà nước dành ít nhất 2% ngân sách Nhà nước cho nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ”.

Nếu bản thân ngân sách nhà nước – nguồn lực chủ động nhất – còn chưa thực hiện được mục tiêu đề ra, thì liệu chúng ta có thể kỳ vọng vào nguồn lực từ doanh nghiệp và thị trường hay không?
PGS.TS. Vũ Sỹ Cường

Mục tiêu ít nhất 2% tổng chi ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ cũng đã được nhắc lại nhiều lần trong các văn bản như Nghị quyết 20-NQ/TW năm 2012, Luật Khoa học và Công nghệ 2013 và Nghị quyết 57-NQ/TW tiếp tục duy trì và nâng cao yêu cầu “hướng tới 2% GDP cho R&D tổng thể và ít nhất 3% tổng chi ngân sách cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo”.

Tuy nhiên, trong nhiều năm, tỷ lệ chi chỉ dao động quanh mức 1%, năm cao nhất cũng chỉ tiệm cận khoảng 1,8% nhưng vẫn chưa đạt ngưỡng đề ra. Và ngay cả hiện nay, tình hình cũng chưa thay đổi đáng kể. “Điều này đặt ra câu hỏi: nếu bản thân ngân sách nhà nước – nguồn lực chủ động nhất – còn chưa thực hiện được mục tiêu đề ra, thì liệu chúng ta có thể kỳ vọng vào nguồn lực từ doanh nghiệp và thị trường hay không?”, PGS.TS. Vũ Sỹ Cường đặt câu hỏi.

Song song với chính sách chi ngân sách, Việt Nam cũng có nhiều cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho khoa học công nghệ, như ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, tiền thuê đất…. Tuy nhiên, hiệu quả khá hạn chế, các ưu đãi chưa đủ hấp dẫn, khó triển khai. Theo số liệu thống kê, mức chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D) của khu vực doanh nghiệp Việt Nam hiện chỉ khoảng 0,2% GDP, thấp hơn rất nhiều so với nhiều quốc gia khác. Tổng chi quốc gia cho nghiên cứu và phát triển khoảng 0,4% GDP, chỉ nhỉnh hơn một số ít nước như Philippines.

VnEconomy

Dữ liệu từ Bộ Khoa học và Công nghệ cho thấy, từ năm 2015 đến nay, tổng chi cho nghiên cứu phát triển có tăng về mặt danh nghĩa, từ khoảng 18.000 tỷ đồng lên khoảng 42.000 tỷ đồng vào năm 2023. Tuy nhiên, nếu loại trừ yếu tố lạm phát, mức tăng này gần như không đáng kể. Trong gần 10 năm, với mức lạm phát trung bình khoảng 6–7% mỗi năm, có thể nói là “chi thực tế gần như không tăng”.

“Đầu tư cho R&D ở Việt Nam chỉ đạt hơn 0,4% GDP, bằng 1⁄4 so với mục tiêu 2% và thấp hơn nhiều so với mức 1,7% ở Trung Quốc và 3,6% ở Hàn Quốc. Trong khi đó, mức chi cho R&D của thế giới năm 2021 là 2,62% GDP, gấp hơn 5 lần Việt Nam theo dữ liệu của World Bank”, PGS.TS. Vũ Sỹ Cường cho biết.

TÂM LÝ E DÈ, KHÔNG DÁM MẠNH DẠN GIẢI NGÂN

Một điểm tích cực là chi từ khu vực ngoài nhà nước, đặc biệt là doanh nghiệp, đang có xu hướng tăng lên. Tuy nhiên, PGS.TS. Vũ Sỹ Cường lưu ý phần lớn khoản chi này đến từ doanh nghiệp nhà nước, trong khi khu vực doanh nghiệp tư nhân – nơi đáng lẽ phải là động lực chính – lại tham gia rất hạn chế.

Mặc dù có chính sách cho phép doanh nghiệp trích tối đa 10% thu nhập, thậm chí nâng lên tối đa 20% thu nhập tính thuế hàng năm kể từ ngày 01/10/2025 theo Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2025 số 67/2025/QH15, để lập quỹ phát triển khoa học công nghệ và được miễn thuế phần này, nhưng khảo sát cho thấy tỷ lệ doanh nghiệp thực sự lập và sử dụng quỹ rất thấp. Nguyên nhân do thủ tục sử dụng quỹ phức tạp, nhiều doanh nghiệp không biết chi tiêu thế nào cho đúng quy định.

 Chi tiêu cho R&D ở khu vực doanh nghiệp, đang có xu hướng tăng lên. Ảnh minh họa
 Chi tiêu cho R&D ở khu vực doanh nghiệp, đang có xu hướng tăng lên. Ảnh minh họa

Không chỉ doanh nghiệp, ngay cả khu vực công cũng gặp nhiều vướng mắc trong quá trình triển khai. Việc giải ngân kinh phí nghiên cứu khoa học thường xuyên bị ách tắc do quy trình hành chính, kế toán và kiểm soát nội bộ. Chỉ cần một khâu không thông suốt, cả đề tài có thể bị đình trệ.

Theo chuyên gia, vấn đề lớn nhất của Việt Nam hiện nay không nằm ở định hướng hay chiến lược. “Các nghị quyết, chính sách của chúng ta có thể nói là rất đúng và đầy đủ. Nhưng cái khó là biến nó thành thực thi trong thực tiễn”, ông nhấn mạnh.

Những rào cản này không chỉ tồn tại ở cấp chính sách vĩ mô mà còn thể hiện rõ trong những trải nghiệm rất cụ thể, như các thủ tục hành chính còn kéo dài, tất cả đều cho thấy khoảng cách lớn giữa mục tiêu chuyển đổi số và thực tế triển khai.

Bên cạnh đó, hàng loạt quỹ hỗ trợ khoa học công nghệ đã được thành lập, từ quỹ phát triển khoa học công nghệ, quỹ đổi mới sáng tạo đến quỹ hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy nhiên, tỷ lệ giải ngân của nhiều quỹ vẫn ở mức thấp.

Một nguyên nhân quan trọng là tâm lý e ngại rủi ro. “Mặc dù đã có những quy định mới, cho phép chấp nhận mức tổn thất nhất định trong đầu tư công nghệ và miễn trách nhiệm trong trường hợp nguyên nhân khách quan, nhưng việc xác định “nguyên nhân khách quan” vẫn rất khó. Điều này khiến nhiều người vẫn e dè, không dám mạnh dạn giải ngân”, chuyên gia nhấn mạnh.

BIẾN CHÍNH SÁCH THÀNH THỰC TẾ

“Tôi cho rằng điều quan trọng hiện nay là làm thế nào để biến các chính sách hiện có thành thực tế”, PGS.TS. Vũ Sỹ Cường chia sẻ. Thứ nhất, thực hiện đúng cam kết về chi ngân sách cho khoa học công nghệ và quan trọng hơn là phải giải ngân được.

Thứ hai, cụ thể hóa các quy định ở mức chi tiết hơn, đặc biệt trong các văn bản dưới luật, để đảm bảo tính khả thi. Đồng thời, cần chấp nhận rủi ro trong đầu tư cho khoa học công nghệ và hạn chế hình sự hóa các sai sót mang tính khách quan. Ông cho biết ở nhiều quốc gia, việc thất bại trong nghiên cứu không bị xử lý hình sự nếu không có yếu tố trục lợi cá nhân.

Thứ ba, cải thiện các chính sách tài chính cho doanh nghiệp, như cho phép chuyển lỗ trong hoạt động nghiên cứu phát triển sang các năm sau để khấu trừ, qua đó tạo động lực đầu tư dài hạn. Hiện nay, các cơ chế này ở Việt Nam còn rất hạn chế.

Thứ tư, cần rà soát toàn bộ hệ thống văn bản pháp lý liên quan, từ luật đến nghị định, để đảm bảo tính đồng bộ và khả thi. Nhiều cơ chế rất tiến bộ trên giấy tờ nhưng khi triển khai lại gặp vướng mắc, đặc biệt trong các vấn đề như góp vốn, phân chia lợi nhuận, sử dụng tài sản công hay khai thác cơ sở vật chất nghiên cứu.

Cuối cùng, ngoài nguồn lực tài chính, PGS.TS. Vũ Sỹ Cường đã đề cập đến thiếu nguồn lực con người khi đội ngũ nghiên cứu “còn rất mỏng”.


AI đang tạo ra một kiểu nạn nhân mới: Nạn nhân “tự nguyện” bị lừa

AI không chỉ tạo ra nội dung giả mà còn có thể hình thành một kiểu nạn nhân mới: những người “tự nguyện” tin vào những điều giả mạo…

13:48 12/08/2026
Nữ giới chiếm gần một nửa lực lượng khoa học công nghệ Việt Nam

Theo đại diện UNDP, 46% không chỉ là một con số về cơ cấu lao động. Đó là một nguồn lực kinh tế mà Việt Nam có thể khai thác tốt hơn để phục vụ mục tiêu tăng trưởng dựa trên năng suất và đổi mới sáng tạo…

13:48 12/08/2026
Chuyên gia người Việt toàn cầu hỗ trợ người trẻ thích ứng thị trường lao động thời AI

Mạng lưới các chuyên gia toàn cầu trong sáng kiến FINO sẽ giúp thế hệ trẻ người Việt trên toàn cầu thích ứng với tương lai thông qua việc cọ xát thực tế, đồng thời giữ vững niềm tự hào về bản sắc văn hóa Việt...

13:42 11/08/2026
Không có hạ tầng số đủ mạnh, AI sẽ khó phát huy giá trị

Nếu coi AI là động cơ thì hạ tầng số chính là hệ thống đường cao tốc để động cơ đó vận hành. Không có hạ tầng số đủ mạnh, AI cũng khó có thể phát huy giá trị…

10:57 10/08/2026
Doanh nghiệp Việt và bài toán làm chủ công nghệ chiến lược

Trong tiến trình hướng tới làm chủ công nghệ, doanh nghiệp Việt cần xác định lĩnh vực trọng tâm để tập trung nguồn lực, làm rõ mức độ làm chủ công nghệ, đồng thời từng bước mở rộng ra thị trường khu vực và quốc tế.

16:27 07/08/2026
Những thay đổi của an ninh mạng và vai trò của con người trong kỷ nguyên AI

Dù AI đang được nhúng sâu và thực thi nhiều tác vụ, vai trò của con người vẫn không thể thay thế trong việc chịu trách nhiệm pháp lý và đưa ra các quyết định chiến lược cuối cùng...

10:16 06/08/2026
Đào tạo kỹ sư bán dẫn: Khoảng cách từ “biết công nghệ” đến “làm được sản phẩm”

Để tham gia chuỗi giá trị công nghiệp, kỹ sư cần hiểu cả quá trình từ nghiên cứu, thiết kế, thử nghiệm đến sản xuất và thương mại hóa...

10:16 06/08/2026
Khung năng lực AI: Bài toán chiến lược mới cho lãnh đạo doanh nghiệp

AI đã bước sang giai đoạn được tích hợp và trở thành nền tảng cho mọi hoạt động kinh doanh. Khung năng lực AI sẽ sớm trở thành tiêu chuẩn mới đối với lãnh đạo doanh nghiệp, tương tự như năng lực quản trị tài chính hay quản trị chiến lược trước đây…

18:41 04/08/2026
Startup game Việt trước cơ hội mới: AI, sáng tạo và bản sắc văn hóa

Một tựa game không phải chỉ là một phần mềm, đó là một sản phẩm văn hóa. Và khi AI đang mở ra cơ hội giảm chi phí, tăng tốc sản xuất, thử nghiệm ý tưởng mới, các studio và startup game Việt có thêm dư địa phát triển với dấu ấn văn hóa bản địa và năng lực sáng tạo riêng...

18:41 04/08/2026
Doanh nghiệp lớn và bài toán “mở đường” cho không gian số mới của Việt Nam

Doanh nghiệp lớn đang giữ vai trò kép: vừa là nhóm khách hàng tiêu dùng công nghệ lớn, vừa là nhà cung cấp các sản phẩm, dịch vụ số cho thị trường...

10:04 03/08/2026