Thiếu minh bạch dữ liệu công nghệ sẽ là trở ngại lớn với nguồn vốn xanh nông nghiệp
Bảo Bình
24/11/2025
Thông tin về các dự án xanh nông nghiệp thường không đồng nhất về quy trình sản xuất, mức độ tác động môi trường hay hiệu quả tiết kiệm tài nguyên nhờ ứng dụng công nghệ. Thiếu dữ liệu khách quan sẽ làm tăng chi phí và rủi ro tín dụng, kéo dài thời gian thẩm định…
Trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh chiến lược tăng trưởng xanh và phát triển nông nghiệp bền vững, nguồn vốn xanh đã trở thành công cụ then chốt giúp doanh nghiệp chuyển đổi mô hình sản xuất theo hướng thân thiện với môi trường, tiết kiệm tài nguyên và nâng cao khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu.
Một trong những công cụ tài chính hiệu quả nhất hiện nay chính là tín dụng xanh – dòng vốn được định hướng vào các dự án sử dụng tài nguyên hiệu quả, giảm phát thải và bảo tồn sinh thái.
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG MINH ĐÓNG VAI TRÒ CHIẾN LƯỢC CỦA TÍN DỤNG XANH
Chia sẻ tại một hội thảo tập huấn về ESG và nguồn vốn xanh cho doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam gần đây, ông Trần Khánh, Giám đốc Khối Khách hàng Doanh nghiệp, Ngân hàng TMCP Bắc Á (Bắc Á Bank), cho biết tín dụng xanh dành cho ngành nông nghiệp đang tập trung vào bốn lĩnh vực trọng điểm.
Thứ nhất, nông nghiệp sạch và bền vững, bao gồm các mô hình canh tác thông minh, sử dụng phân bón hữu cơ, giảm hóa chất và thuốc trừ sâu, kết hợp công nghệ tiết kiệm nước và tái chế phụ phẩm, phế thải. Những giải pháp này không chỉ giảm phát thải mà còn bảo vệ chất lượng đất và nguồn nước, hướng tới nền nông nghiệp tuần hoàn.
Thứ hai, ứng dụng công nghệ cao trong trồng trọt, chăn nuôi và chế biến sản phẩm. Việc áp dụng công nghệ giúp chuẩn hóa quy trình sản xuất, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, đồng thời tăng cường khả năng cạnh tranh của nông nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Thứ ba, quản lý và sử dụng tài nguyên nước bền vững, bao gồm hệ thống tưới tiêu thông minh, tiết kiệm nước, cùng với giải pháp giám sát và xử lý nước thải tự động nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường.
Thứ tư, phát triển lâm nghiệp bền vững, khuyến khích bảo tồn đa dạng sinh học, trồng và phục hồi rừng tự nhiên, kết hợp nông nghiệp với du lịch sinh thái hay mô hình nông nghiệp hữu cơ, nhằm tạo giá trị kinh tế lâu dài cho cộng đồng địa phương.
Theo ông Trần Khánh, tín dụng xanh trong lĩnh vực nông nghiệp không chỉ cung cấp vốn mà còn định hướng hành vi sản xuất và tiêu dùng theo hướng bền vững. “Điều này giúp doanh nghiệp vừa nâng cao hiệu quả kinh tế, vừa giảm thiểu tác động tiêu cực tới môi trường – một yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp”, ông Khánh cho biết.
RÀO CẢN KÉP: TIẾP CẬN VỐN VÀ MINH BẠCH DỮ LIỆU CÔNG NGHỆ
Theo TS. Đặng Thu Giang, Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ, Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo, tài chính xanh đóng vai trò quan trọng trong hỗ trợ các doanh nghiệp nông nghiệp đổi mới sáng tạo, ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số ở Việt Nam.
Thông qua các nguồn vốn ưu đãi, tài chính xanh giúp ngành nông nghiệp ứng dụng công nghệ số trong quản lý sản xuất, tối ưu hóa chuỗi cung ứng, nâng cao hiệu quả vận hành và đáp ứng các tiêu chuẩn bền vững toàn cầu, triển khai thương mại điện tử và mô hình kinh tế tuần hoàn.
Điển hình như trường hợp Hợp tác xã Nông sản Xanh Bắc Giang đã sử dụng vốn vay xanh từ Quỹ Đổi mới Công nghệ Quốc gia (NATIF) để xây dựng nền tảng thương mại điện tử kết nối với các nhà phân phối châu Âu, giúp tăng 30% doanh thu xuất khẩu.
TS. Đặng Thu Giang cho biết tại Việt Nam, tài chính xanh đang dần trở thành một công cụ quan trọng hỗ trợ đổi mới sáng tạo, ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số, đặc biệt trong các lĩnh vực kinh tế xanh, năng lượng tái tạo, sản xuất sạch và nông nghiệp thông minh.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy nguồn vốn dành cho nông nghiệp, nông thôn vẫn chưa tương xứng với tiềm năng phát triển. Theo báo cáo khảo sát “Mức độ sẵn sàng và khó khăn của doanh nghiệp trong chuyển đổi xanh” do Ban Nghiên cứu Phát triển Kinh tế Tư nhân (Ban IV) thực hiện năm 2024, với hơn 2.734 doanh nghiệp tham gia, khoảng 50-53% doanh nghiệp ngành nông-lâm-thủy sản gặp khó khăn lớn nhất về nguồn vốn xanh, cao hơn mức trung bình toàn nền kinh tế. Nhiều dự án tiềm năng về lợi ích môi trường – xã hội nhưng lại thiếu điều kiện hoặc cơ chế hỗ trợ để vay vốn ưu đãi.
Theo ông Trần Khánh, có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này. Chẳng hạn, về khung pháp lý, mặc dù Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản liên quan đến tài chính xanh, khung pháp lý hiện nay vẫn chưa thực sự hoàn thiện. Các quy định chủ yếu mang tính nguyên tắc, thiếu hướng dẫn cụ thể về quy trình xác nhận dự án xanh, tiêu chuẩn kinh tế tuần hoàn hay phương pháp đánh giá tính xanh, khiến doanh nghiệp và ngân hàng gặp nhiều khó khăn khi triển khai.
Nguồn lực tài chính dành cho tăng trưởng xanh cũng còn hạn chế. Các khoản vay ủy thác từ tổ chức quốc tế thường đi kèm điều kiện phức tạp, lãi suất chưa thật sự cạnh tranh, trong khi các quỹ hỗ trợ nội địa vẫn chưa phát triển mạnh. Do đó, phần lớn doanh nghiệp vẫn phải dựa vào nguồn tín dụng từ ngân hàng thương mại, nơi mà quy trình thẩm định vốn đã phức tạp lại càng trở nên dài và tốn thời gian.
Trong khi đó, thiếu minh bạch dữ liệu ứng dụng công nghệ cũng là một trở ngại lớn. "Thông tin về dự án xanh thường thiếu minh bạch và không đồng nhất về quy trình sản xuất, mức độ tác động môi trường hay hiệu quả tiết kiệm năng lượng/tài nguyên nhờ ứng dụng công nghệ”, ông Khánh chỉ ra. Việc thiếu dữ liệu khách quan làm tăng chi phí và rủi ro tín dụng, kéo dài thời gian thẩm định.
Quy trình thẩm định và phê duyệt tín dụng xanh vốn đã phức tạp lại phải bổ sung thêm các tiêu chí môi trường – xã hội, yêu cầu báo cáo đánh giá tác động, chứng nhận sản phẩm xanh hoặc các tài liệu chứng minh tiêu chuẩn sản xuất bền vững.
Các chính sách khuyến khích như giảm lãi suất, ưu tiên tỷ lệ tài sản có rủi ro cho vay xanh cũng chưa được triển khai mạnh mẽ, khiến các ngân hàng thiếu động lực mở rộng danh mục tín dụng xanh.
Thêm vào đó, đặc thù của nông nghiệp xanh là các dự án dài hạn, trong khi phần lớn nguồn vốn huy động của ngân hàng lại ngắn hạn, dẫn đến tình trạng mất cân đối kỳ hạn khi tài trợ cho các dự án này.
THÁO GỠ KHÓ KHĂN CHO TÍN DỤNG XANH NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Theo các chuyên gia, để dòng vốn tín dụng xanh vận hành hiệu quả và trở thành đòn bẩy cho nông nghiệp công nghệ cao, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, như hoàn thiện tiêu chí xanh gắn với công nghệ.
Trong đó, ưu tiên hàng đầu là xây dựng bộ tiêu chí cụ thể, định lượng hóa và dễ áp dụng cho từng lĩnh vực, đặc biệt là các tiêu chuẩn kỹ thuật xanh cho công nghệ, ví dụ hiệu suất tiết kiệm nước tối thiểu của hệ thống tưới thông minh….
Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước cần thúc đẩy cơ chế khuyến khích, đặc biệt là ưu đãi về lãi suất và hỗ trợ tái cấp vốn cho các tổ chức tín dụng tham gia mạnh vào tín dụng xanh. Khi có đủ ưu đãi hấp dẫn, các ngân hàng sẽ chủ động phát triển các sản phẩm tín dụng xanh phù hợp với nhu cầu đầu tư công nghệ cao của doanh nghiệp.
Một khuyến nghị quan trọng khác là đa dạng hóa nguồn vốn tài trợ xanh thông qua hợp tác quốc tế, khai thác các quỹ tín dụng xanh toàn cầu hoặc nguồn hỗ trợ phát triển bền vững từ các tổ chức tài chính đa phương. Điều này không chỉ bổ sung nguồn lực cho các tổ chức tín dụng trong nước mà còn giúp Việt Nam tiếp cận kiến thức, công nghệ và tiêu chuẩn kỹ thuật xanh quốc tế.
Theo ông Khánh, doanh nghiệp cần chủ động nắm vững tiêu chí vay vốn xanh, đặc biệt là phải minh bạch hóa thông tin và định lượng hóa tác động tích cực của việc ứng dụng công nghệ tới môi trường.
"Khi doanh nghiệp cung cấp dữ liệu minh bạch về hiệu quả công nghệ, dòng vốn tín dụng xanh sẽ vận hành hiệu quả hơn, thúc đẩy phát triển nông nghiệp hiện đại," ông Khánh nhận định.
Từ khóa:
Dòng sự kiện:
Kiến trúc dữ liệu quốc giaỨng dụng công nghệ số và AI không chỉ nâng cao trải nghiệm khách hàng qua các kênh tương tác trực tuyến mà còn là chìa khóa giúp ngân hàng tối ưu hóa vận hành và kiểm soát rủi ro hiệu quả...
Khác với mô hình AI truyền thống phụ thuộc chủ yếu vào điện toán đám mây, AI tại biên (Edge AI) cho phép xử lý dữ liệu ngay tại thiết bị hoặc gần nguồn dữ liệu...
AI đã trở thành công cụ phổ biến trong marketing, vì thế lợi thế cạnh tranh không còn nằm ở công nghệ mà chuyển sang năng lực con người và khả năng quản trị AI của doanh nghiệp...
Nếu trước đây doanh nghiệp chủ yếu tìm kiếm lập trình viên AI hoặc chuyên gia dữ liệu, thì nay nhu cầu đang dịch chuyển sang các AI builders - lực lượng có thể kết hợp công nghệ, dữ liệu và nghiệp vụ để xây dựng các AI agent phục vụ từng quy trình cụ thể…
Sinh viên bắt đầu học từ hôm nay nhưng phải 4-5 năm sau mới tốt nghiệp. Vì thế, nếu các trường không dự báo được xu hướng phát triển của thị trường lao động thì rất có thể khi ra trường, ngành học đó đã không còn phù hợp…
Các quy định mới về bảo vệ dữ liệu cá nhân, an ninh mạng và trí tuệ nhân tạo (AI) đang định hình một giai đoạn mới của quản trị số tại Việt Nam. Theo đó, doanh nghiệp cần thay đổi cách tiếp cận, chuyển từ tuân thủ riêng lẻ từng quy định sang quản trị tuân thủ tích hợp giữa dữ liệu và công nghệ...
Sự phục hồi của thị trường công nghệ toàn cầu cùng làn sóng đầu tư mạnh mẽ vào trí tuệ nhân tạo (AI), trung tâm dữ liệu và bán dẫn đang tạo ra động lực tăng trưởng mới cho ngành điện tử Việt Nam…
Cơ chế, chính sách hỗ trợ đang ngày càng hoàn thiện song không phải doanh nghiệp nào cũng nắm bắt thông tin và sẵn sàng tận dụng cơ hội này…
Chỉ khi được bảo đảm bằng kiến trúc công nghệ, các tiêu chuẩn kỹ thuật và khung thể chế phù hợp, dữ liệu mới có thể lưu chuyển an toàn, tạo giá trị kinh tế và trở thành nền tảng cho sự phát triển của kinh tế số và kinh tế AI...
Bộ Khoa học và Công nghệ đang lấy ý kiến đối với Dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục chip chuyên dụng trong một số ngành, lĩnh vực nhà nước ưu tiên đặt hàng…