
Hiện nay trên địa bàn TP. Hà Nội đã triển khai 160 mô hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Trong đó có 105 mô hình trồng trọt, 39 mô hình chăn nuôi, 15 mô hình thuỷ sản, tập trung chủ yếu ở Mê Linh, Gia Lâm, Thường Tín, Đông Anh, Thanh Oai, Đan Phượng. Giá trị sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao chiếm 32% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp.
Tuy nhiên, tại toạ đàm “Cơ hội và chính sách trong nông nghiệp công nghệ cao” do Trung tâm xúc tiến đầu tư, thương mại, du lịch TP. Hà Nội tổ chức ngày 26/4, bà Nguyễn Thị Thoa, nguyên Trưởng phòng Trồng trọt (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông nghiệp), cho biết việc mở rộng ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất, sơ chế và tiêu thụ nông sản vẫn còn nhiều hạn chế, tồn tại.
Hiện mới chỉ có một doanh nghiệp được công nhận được doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao; chỉ có 2 mô hình sản xuất rau tại Thanh Trì và Đan Phượng; 2 mô hình sản xuất hoa tại Đan Phượng và Chương Mỹ; 1 mô hình sản xuất lúa (Thanh Trì); 1 cơ sở sản xuất giống thuỷ sản và 17 cơ sở nuôi trồng thuỷ sản… ứng dụng công nghệ cao.
Bên cạnh đó, Hà Nội mới chỉ có hơn 50 ha sản xuất rau, hoa và 20 ha nuôi trồng thuỷ sản ứng dụng các công nghệ thuộc danh mục công nghệ cao vào sản xuất. Còn lại là các cơ sở ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật hoặc ứng dụng một phần hệ thống nhà lưới có điều khiển vi khí hậu, giống mới, chế phẩm sinh học, phân bón hữu cơ, thuốc bảo vệ thực vật, hệ thống chuồng kín trong chăn nuôi.
“Còn thiếu những mô hình mang tính tiên tiến hàng đầu, chứa đựng hàm lượng khoa học công nghệ cao áp dụng trong sản xuất nông nghiệp nên chưa tạo ra được sự đột phá mạnh mẽ về năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất”, bà Thoa nhấn mạnh.
Mặt khác, chưa hình thành được vùng sản xuất ứng dụng công nghệ cao theo tiêu chí vùng sản xuất ứng dụng công nghệ cao của Thành phố. Việc nhân rộng các mô hình ứng dụng công nghệ cao còn rất hạn chế.
Đặc biệt, nông nghiệp Thủ đô còn ít tiếp cận với các ứng dụng chuyển đổi số trong điều hành sản xuất theo chuỗi giá trị, phát triển nông nghiệp sinh thái, tuần hoàn nhằm nâng cao giá trị thương hiệu, cũng như khả năng truy xuất minh bạch… Công tác hỗ trợ ứng dụng công nghệ cao, thu hút đầu tư nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao cũng còn rất hạn chế…
Không chỉ vậy, theo bà Thoa, việc xây dựng và triển khai các chính sách hỗ trợ phát triển ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp còn chưa nhiều. Như chưa triển khai được các nội dung hỗ trợ theo quy định tại Nghị định số 57/2018/NĐ-CP về cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn.
Trong khi các tiêu chí sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao của Thành phố đã ban hành tại Quyết định 3215/QĐ-UBND rất khó thực hiện. Nhất là tiêu chí về diện tích quá lớn, không phù hợp với địa phương. Trong khi đó, các mô hình sản xuất, ứng dụng công nghệ cao hiện nay về cơ bản quy mô còn nhỏ… nên các đối tượng được thụ hưởng chính sách rất khó tiếp cận chính sách hỗ trợ do không đảm bảo được các yêu cầu đặt ra.
Mặt khác, danh mục các sản phẩm được hỗ trợ chỉ giới hạn một số loại cây trồng, vật nuôi nhất định. Trong khi thực tế nhiều mô hình sản xuất sản phẩm nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao nằm ngoài danh mục có tiềm năng phát triển tốt nhưng chưa được hỗ trợ.
Ngành nông nghiệp còn thiếu chính sách và định mức kinh tế kỹ thuật trong ứng dụng công nghệ chuyển đổi số, nông nghiệp thông minh, trí tuệ nhân tạo AI, đưa công nghệ IoT vào thực hành sản xuất, kết nối thị trường.
Hơn nữa, phương thức hỗ trợ sau đầu tư khó triển khai do cơ chế cách làm mới nên còn lúng túng khi triển khai thực hiện. Thành phố chưa có cơ chế về quy trình, thủ tục hướng dẫn các định mức kỹ thuật chi tiết theo danh mục công nghệ cao ứng dụng trong nông nghiệp đã được ban hành… Đồng thời, cũng chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về thủ tục đất đai chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên đất lúa…
Ở góc độ khác, nhiều ý kiến cho rằng, chính sách hỗ trợ nông nghiệp công nghệ cao còn nhiều bất cập, chưa đồng bộ, chưa phù hợp với thực tế nên khó thu hút được các nguồn lực xã hội. Doanh nghiệp chưa mặn mà đầu tư cho sản xuất nông nghiệp, nhất là đầu tư cho nông nghiệp công nghệ cao.
Một vấn đề lo ngại khác, thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp không ổn định nên hiệu quả kinh tế sản xuất một số sản phẩm còn thấp, chưa tương xứng với mức độ đầu tư.




Sở hữu đường bờ biển dài hơn 3.260 km cùng những lợi thế địa kinh tế vượt trội, Việt Nam đang nắm giữ chìa khóa vàng để bứt phá thành một cường quốc kinh tế biển. Tuy nhiên, hành trình vươn khơi của các ngành kinh tế hiện đang vấp phải những rào cản lớn về thể chế quản lý không gian biển...
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang đẩy nhanh việc xây dựng bản đồ ranh giới đất rừng nhằm hỗ trợ nông sản xuất khẩu đáp ứng quy định EUDR. Đồng thời, các ngành hàng như cà phê, cao su cũng cần bản đồ hóa vùng trồng đến từng thửa đất thay vì chỉ dừng ở cơ sở dữ liệu, tạo nền tảng cho việc truy xuất nguồn gốc, đánh giá rủi ro và nâng cao năng lực quản lý vùng nguyên liệu...
Mục tiêu tăng trưởng hai con số không thể đạt được bằng cách dàn hàng ngang các nguồn lực, mà phải bằng những chính sách vi mô thực sự đột phá. Giải phóng năng lực công nghệ AI, nâng tầm thể chế thử nghiệm đặc khu kinh tế, tháo gỡ điểm nghẽn dòng vốn tín dụng và thiết lập hệ thống thuế số minh bạch chính là những bệ phóng vững chắc nhất để đưa nền kinh tế Việt Nam cất cánh trong kỷ nguyên mới…
Mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD không chỉ đòi hỏi tăng kim ngạch, mà còn kiểm chứng khả năng chuyển các Nghị quyết về thể chế, công nghệ... thành năng lực cạnh tranh.
Sự hiện diện của ESFLO MKTING, S.A. de C.V. tại VIS 2026 cho thấy Việt Nam đang trở thành điểm đến ưu tiên của các nhà nhập khẩu Mexico, trong bối cảnh thương mại song phương tăng trưởng mạnh nhờ Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)...
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Theo Ban Quản lý khu kinh tế Hải Phòng, trong việc quy hoạch và định hướng của Thành phố, thay vì chỉ phát triển khu công nghiệp, Hải Phòng đang hướng tới hình thành các chuỗi liên kết giữa khu công nghiệp, logistic, cảng biển, đô thị, dịch vụ theo mô hình của Singapore...