
Ngân hàng Nhà nước vừa công bố thống kê các chỉ tiêu cơ bản trong hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng tính đến cuối tháng 12/2020.
Theo đó, tính đến 31/12/2020, tổng tài sản có toàn hệ thống các tổ chức tín dụng đã đạt gần 14,02 triệu tỷ đồng, tăng 11,45% so với cuối năm trước.
Tổng tài sản có của nhóm ngân hàng thương mại tư nhân đến cuối tháng 12 đã lên tới 6,053 triệu tỷ đồng, tăng trưởng 16,13% so với cuối năm trước, chiếm 43,17% tổng tài sản toàn hệ thống.
Trong khi tổng tài sản của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước (gồm Agribank, VietinBank, Vietcombank, BIDV, Ngân hàng Xây dựng, Ngân hàng Dầu khí Toàn cầu, Ngân hàng Đại Dương) chỉ tăng 6,47% trong năm qua, lên 5,79 triệu tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 41,3%.
Bên cạnh đó, tổng vốn điều lệ toàn hệ thống cũng ghi nhận tăng, 7,89% so với cuối năm trước, đạt mức 660.601 tỷ đồng. Tuy nhiên, mức tăng này chủ yếu tập trung ở nhóm ngân hàng thương mại tư nhân với mức tăng 317.133 tỷ đồng, tăng 11,39%.
Nhưng nếu xét theo giá trị phần trăm, khối công ty tài chính, cho thuê lại dẫn đầu khi ghi nhận mức tăng trưởng vốn điều lệ lên tới 14,17%, tương đương tăng lên 30.556 nghìn tỷ đồng.
Trái lại, nhóm ngân hàng thương mại nhà nước có mức vốn điều lệ gần như giữ nguyên là 155.271 tỷ đồng, nhích nhẹ 0,08% so với năm trước.
Tại chỉ tiêu vốn tự có của nhóm áp dụng Thông tư 22/2019/TT-NHNN là 282,86 nghìn tỷ đồng, CAR ở mức 10,41% và vốn tự có của nhóm áp dụng Thông tư 36/2014/TT-NHNN (công ty tài chính, cho thuê tài chính) là 44,18 nghìn tỷ đồng và CAR là 19,03%.
Tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn toàn hệ thống cập nhật đến cuối tháng 12/2020 ở mức khá thấp là 25,79%; tiếp tục giảm so với mức 27,35% hồi cuối năm 2019, cũng như nằm rất sâu dưới ngưỡng cho phép hiện nay là 40%.
Tuy nhiên, cũng cần lưu ý, tỷ lệ trên ở mức thấp do tính bình quân với tham số kéo xuống bởi nhóm ngân hàng nước ngoài và chi nhánh ngân hàng nước ngoài do nhóm này không dùng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn.
Trong khi đó, tỷ lệ này tại các ngân hàng thương mại nhà nước là 29,88% và ngân hàng thương mại tư nhân là 28,18%; tại các công ty tài chính, cho thuê tài chính là 35,52%.
Đáng chú ý, về khả năng sinh lời của các ngân hàng, số liệu cập nhật đến hết quý 3/2020 cho thấy, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) cao nhất thuộc về nhóm công ty tài chính, cho thuê với 2,19%, đứng thứ hai là Ngân hàng Chính sách xã hội (0,99%) và quỹ tín dụng nhân dân với ROA đạt 0,87%.
ROA của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước ở mức khá thấp, đạt 0,66%, chỉ đứng trên Ngân hàng Hợp tác xã (0,24%) và thấp hơn ROA trung bình của toàn hệ thống là 0,75%. ROA của nhóm ngân hàng thương mại tư nhân nhỉnh hơn khi đạt 0,78%.
Như vậy, chỉ sau một năm từ 2019 đến 2020, khối ngân hàng tư nhân đã bứt tốc và bỏ xa khối ngân hàng nhà nước ở hàng loạt chỉ tiêu như tổng tài sản, vốn điều lệ, chỉ số ROA đều cao hơn; chỉ số an toàn tốt hơn khi tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn và tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi thấp hơn.
Hiện, nhóm ngân hàng thương mại nhà nước có duy nhất tiêu chí tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) tốt hơn nhóm ngân hàng thương mại tư nhân.
Kỳ vọng và hưng phấn được củng cố hôm nay khi xung đột bỗng nhiên “tịt ngòi” sau khẩu hiểu “locked & loaded”, CPI giảm tháng thứ hai liên tiếp… Có vẻ thị trường tăng khắp nơi lại tràn ngập tin tốt!
Thị trường quay trở lại trạng thái hưng phấn mạnh mẽ trong phiên đầu tuần khi vừa đón nhận tín hiệu hạ nhiệt xung đột Trung Đông, vừa đón nhận thông tin vĩ mô tháng 7 khá tích cực. Đà tăng giá cổ phiếu được hỗ trợ từ lực cầu chủ động mạnh mẽ, trong đó khối ngoại cũng đổ ròng vào hơn ngàn tỷ…
Từ vị trí là một trong những đồng tiền yếu nhất châu Á, đồng won Hàn Quốc đã có một cú “lội ngược dòng” ngoạn mục trong tháng 7 vừa qua, trở thành một trong những đồng tiền tăng giá mạnh nhất thế giới...
ExxonMobil và Chevron - hai trong số những tập đoàn dầu khí lớn nhất thế giới - công bố kết quả kinh doanh quý 2/2026 khả quan, cho thấy các Big Oil Mỹ này đang hưởng lợi lớn từ việc giá dầu thô tăng mạnh do cuộc chiến tranh ở Vùng Vịnh...
Sáu tháng đầu năm 2026 khép lại với nhiều tín hiệu tích cực của nền kinh tế. Đằng sau những con số tăng trưởng là yêu cầu nhìn lại hiệu quả thực thi các quyết sách và nhận diện những động lực cần tiếp tục được khơi thông trong chặng đường còn lại của năm, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Sáu tháng đầu năm 2026 khép lại với nhiều tín hiệu tích cực của nền kinh tế. Đằng sau những con số tăng trưởng là yêu cầu nhìn lại hiệu quả thực thi các quyết sách và nhận diện những động lực cần tiếp tục được khơi thông trong chặng đường còn lại của năm, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Sáu tháng đầu năm 2026 khép lại với nhiều tín hiệu tích cực của nền kinh tế. Đằng sau những con số tăng trưởng là yêu cầu nhìn lại hiệu quả thực thi các quyết sách và nhận diện những động lực cần tiếp tục được khơi thông trong chặng đường còn lại của năm, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số.