Xe điện tạo cơ hội mở rộng cho doanh nghiệp Việt
Trao đổi với PV AutoNews, bà Nguyễn Thu Hồng, Giám đốc điều hành Công ty CP Sản xuất và Phát triển Công nghiệp Việt Nhật (Indema), doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và gia công kim loại tấm, cho biết sự phát triển của ngành xe điện đang mở ra cơ hội đáng kể cho các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng ngành ô tô.
Theo bà Hồng, nhiều doanh nghiệp trong nước đã có nền tảng nhất định khi nhiều năm qua tham gia cung ứng sản phẩm cho Toyota, Honda và các doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực ô tô. Phần lớn doanh nghiệp khởi đầu từ quy mô nhỏ nhưng thông qua quá trình được đào tạo, đánh giá và quản lý bởi các nhà cung cấp quốc tế, năng lực sản xuất và quản trị đã được nâng lên đáng kể.
Chính nền tảng này giúp quá trình nội địa hóa trong ngành ô tô, đặc biệt là xe điện, diễn ra nhanh hơn trong những năm gần đây. Theo bà Hồng, sự xuất hiện của VinFast không chỉ tạo thêm đầu ra cho các doanh nghiệp sản xuất linh kiện mà còn thúc đẩy sự hình thành của một hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ rộng lớn hơn.
"Những doanh nghiệp từng tham gia chuỗi cung ứng của Toyota, Honda hiện nay tiếp tục có cơ hội trở thành nhà cung ứng cho VinFast. Đây là cơ hội rất lớn đối với những doanh nghiệp làm việc nghiêm túc và có chiến lược đầu tư bài bản", bà Hồng nhận định.
Bà cho rằng sự phát triển của xe điện kéo theo nhu cầu đối với nhiều lĩnh vực mới như thiết kế công nghiệp, sản xuất vỏ thiết bị, thiết bị điện, hạ tầng trạm sạc và các dịch vụ hỗ trợ liên quan. Tuy nhiên, cơ hội chỉ dành cho những doanh nghiệp sẵn sàng đầu tư dài hạn và nâng cấp năng lực cạnh tranh.
Điểm nghẽn vẫn còn lớn
Trong khi đó, ở góc độ chuyên gia ngành ô tô, ông Nguyễn Thanh Thủy, Chủ tịch Thinksmart Group, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Ô tô và Thiết bị động lực Thành phố Hồ Chí Minh (SAE-HCMC), Phó Chủ nhiệm Câu lạc bộ SAE AutoClubVN, cho rằng vị thế của doanh nghiệp cơ khí Việt Nam trong chuỗi cung ứng ô tô hiện vẫn chủ yếu tập trung ở các công đoạn gia công, chế tạo chi tiết cơ khí, khuôn mẫu, đồ gá, kết cấu kim loại và một số cụm linh kiện có độ phức tạp chưa cao.
Theo ông Thủy, lợi thế của doanh nghiệp Việt Nam nằm ở sự linh hoạt, chi phí cạnh tranh và khả năng đáp ứng nhanh. Sau hơn ba thập kỷ phát triển ngành ô tô, nhiều doanh nghiệp đã đầu tư hệ thống CNC, robot hàn, cắt laser, khuôn mẫu, thiết kế CAD/CAM, đo kiểm 3D và từng bước tiếp cận các công nghệ số như mô phỏng CAE, quét 3D, thiết kế ngược hay in 3D.
Nhờ đó, doanh nghiệp Việt Nam đã có thể làm chủ khá tốt các nhóm sản phẩm như chi tiết cơ khí gia công, kết cấu kim loại, khung giá đỡ, khuôn mẫu, chi tiết nhựa, cao su kỹ thuật, dây điện, nội thất, một số chi tiết thân vỏ và linh kiện phụ trợ.
Tuy nhiên, để trở thành nhà cung ứng cấp 1 hoặc cấp 2 cho các hãng xe lớn, doanh nghiệp không chỉ cần năng lực sản xuất mà còn phải làm chủ thiết kế, kiểm soát chất lượng, truy xuất dữ liệu, tiêu chuẩn hóa quy trình và tham gia đồng phát triển sản phẩm với các nhà sản xuất ô tô.
"Nói cách khác, cơ khí Việt Nam đã có tay nghề sản xuất nhưng vẫn cần phát triển thêm năng lực kỹ thuật hệ thống để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị ngành ô tô", ông Thủy nhận định.
Dù năng lực sản xuất đã được cải thiện đáng kể, các chuyên gia cho rằng doanh nghiệp cơ khí Việt Nam vẫn đang đối mặt với nhiều hạn chế mang tính nền tảng.
Bà Nguyễn Thu Hồng nhận định điểm yếu lớn nhất hiện nay nằm ở công nghiệp vật liệu. Phần lớn doanh nghiệp trong nước vẫn phải nhập khẩu nguyên vật liệu rồi thực hiện các công đoạn gia công, khiến giá trị gia tăng tạo ra còn hạn chế.
"Muốn phát triển ngành cơ khí chính xác hay công nghiệp hỗ trợ ô tô, chúng ta không thể tách rời công nghiệp vật liệu. Nếu không làm chủ được công nghệ vật liệu, Việt Nam sẽ rất khó vượt qua vị trí gia công đơn thuần", bà Hồng nhấn mạnh.
Ở góc độ kỹ thuật, ông Nguyễn Thanh Thủy cho biết các lĩnh vực có hàm lượng công nghệ cao như động cơ, hộp số, ECU, cảm biến, chip bán dẫn, pin, cell pin, mô tơ điện, inverter hay các hệ thống điện tử thông minh vẫn phụ thuộc lớn vào nhập khẩu.
Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp vẫn mạnh về gia công nhưng yếu ở khâu nghiên cứu phát triển, thiết kế, mô phỏng và tối ưu sản phẩm. Đây là rào cản khiến doanh nghiệp khó tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Muốn đi xa phải đầu tư vào quản trị và con người
Theo ông Nguyễn Thanh Thủy, để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của ngành ô tô, doanh nghiệp cần ưu tiên đầu tư theo thứ tự: quản trị, nhân lực rồi mới đến công nghệ.
"Công nghệ rất cần, nhưng nếu chỉ mua máy móc mà không có con người và hệ thống quản trị thì hiệu quả sẽ không cao. Ngành ô tô đòi hỏi tính kỷ luật rất lớn, quy trình phải chuẩn, dữ liệu phải rõ, sai số phải được kiểm soát và chất lượng phải được duy trì ổn định trong suốt quá trình sản xuất", ông Thủy nhấn mạnh.
Theo ông, doanh nghiệp cần đầu tư vào quản trị chất lượng, tiêu chuẩn hóa quy trình, quản trị dữ liệu kỹ thuật, quản lý thay đổi thiết kế và truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Song song với đó là đào tạo đội ngũ kỹ sư, kỹ thuật viên có khả năng làm việc trên các nền tảng số như CAD/CAM/CAE, quét 3D (3D Scanning), đo kiểm 3D (3D Inspection), thiết kế ngược (Reverse Engineering) và công nghệ sản xuất bồi đắp (Additive Manufacturing).
Ông Thủy cho biết, hiện nay Thinksmart đang phát triển hệ sinh thái giải pháp số hóa phục vụ lĩnh vực cơ khí và sản xuất công nghiệp, giúp doanh nghiệp rút ngắn vòng đời phát triển sản phẩm từ khâu ý tưởng, thiết kế, mô phỏng, chế tạo mẫu, đo kiểm cho tới cải tiến sản xuất. Theo ông, đây là một trong những hướng đi quan trọng để doanh nghiệp cơ khí nâng cao năng lực cạnh tranh và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng ngành ô tô.
Đồng quan điểm, bà Nguyễn Thu Hồng cho rằng yếu tố quyết định sự thành công của doanh nghiệp vẫn là con người. Doanh nghiệp muốn tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu phải xây dựng được uy tín, khả năng kiểm soát chất lượng và tư duy quản trị hiện đại.
"Điều quan trọng không phải là phát triển thật nhanh mà là phát triển bền vững. Muốn đi đường dài phải đầu tư nghiêm túc cho con người, hệ thống quản lý chất lượng và năng lực cốt lõi của doanh nghiệp", bà Hồng nhấn mạnh.
Nội địa hóa phải gắn với năng lực làm chủ công nghệ
Đánh giá triển vọng 5-10 năm tới, các chuyên gia cho rằng tỷ lệ nội địa hóa của ngành ô tô Việt Nam sẽ tiếp tục được cải thiện nhờ sự phát triển của hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ và xu hướng xe điện.
Những lĩnh vực có khả năng gia tăng nội địa hóa nhanh hơn gồm linh kiện cơ khí, chi tiết nhựa, cao su kỹ thuật, dây điện, nội thất, khuôn mẫu, kết cấu nhôm, vỏ pin và các thiết bị phục vụ sản xuất ô tô.
Đặc biệt, ông Nguyễn Thanh Thủy cho hay xe điện đang tạo ra nhiều không gian mới cho doanh nghiệp cơ khí Việt Nam tham gia vào các lĩnh vực như vỏ pin, khay pin, hệ thống làm mát pin, kết cấu nhẹ, module nhôm, chi tiết composite, đồ gá lắp ráp, thiết bị kiểm tra, linh kiện cơ điện tử và các giải pháp phục vụ hạ tầng xe điện.
Tuy nhiên, những lĩnh vực như cell pin, mô tơ điện, điện tử công suất, cảm biến hay phần mềm điều khiển vẫn cần thời gian dài hơn cùng các chính sách hỗ trợ đủ mạnh để phát triển.
Cũng theo ông Thủy, mục tiêu dài hạn không nên chỉ dừng lại ở tỷ lệ nội địa hóa bao nhiêu phần trăm mà quan trọng hơn là doanh nghiệp Việt Nam làm chủ được bao nhiêu năng lực cốt lõi trong chuỗi cung ứng.
Khi doanh nghiệp có thể làm chủ thiết kế, vật liệu, dữ liệu kỹ thuật, thử nghiệm, đo kiểm và sản xuất theo tiêu chuẩn quốc tế, mục tiêu nâng cao tỷ lệ nội địa hóa mới đi kèm với năng lực cạnh tranh thực chất. Đây cũng là điều kiện để ngành ô tô Việt Nam từng bước xây dựng tính tự chủ và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.